KẾT QUẢ CHUNG KHẢO “Cuộc thi sáng tác ca khúc về quê hương Quảng Ngãi lần thứ I: 2020-2021

KẾT QUẢ CHUNG KHẢO “Cuộc thi sáng tác ca khúc về quê hương Quảng Ngãi lần thứ I: 2020-2021

Ngày 28/5, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tác ca khúc về quê hương Quảng Ngãi lần thứ I (2020-2021) đã công bố kết quả chung khảo, gồm:1. 01 giải Nhì (không có giải Nhất), giải thưởng: 100 triệu đồng – thuộc về ca khúc “Quảng Ngãi tôi” của tác giả Nguyễn Hoàng Triều (Hoàng Triều), tỉnh Quảng Ngãi;2. 01 giải Ba, giải thưởng: 70 triệu đồng – thuộc về ca khúc “Trường ca Mỹ Lai – Sơn Mỹ” của tác giả Trương Quang Đô, TP. Hồ Chí Minh;3. 03 giải Khuyến khích, giải thưởng: 40 triệu đồng/ giải; thuộc về các ca khúc:- “Mơ về Quảng Ngãi” của nhóm tác giả – Nhạc: Nguyễn Trọng Tĩnh, Thơ: Bùi Thanh Hà, tỉnh Bắc Ninh;- “Nhớ Quảng Ngãi” của tác giả Phạm Tuy, tỉnh Quảng Ngãi;- “Về Quảng Ngãi quê anh” của tác giả Nguyễn Văn Luyện, tỉnh Quảng Ngãi;

Tại cuộc thi này, ngoài 05 ca khúc đoạt giải, có số điểm cao nhất (tính từ trên xuống) Ban Tổ chức cũng quyết định trao tặng thêm 08 giải thưởng phụ cho các ca khúc có số điểm cao tiếp theo, sắp theo chủ đề và nội dung thể hiện, giải thưởng: 10 triệu đồng/giải, gồm:1. “Bình yên nơi đảo xa” là Ca khúc hay về biển đảo, tác giả Phạm Phước Nghĩa, tỉnh Thừa Thiên Huế;2. “Trà Giang tình quê” là Ca khúc phổ thơ hay, tác giả – Nhạc: Phạm Hồng Sơn, Thơ: Ngô Đức Hành, TP. Hà Nội; 3. “Quảng Ngãi quê ta” là Ca khúc hay về truyền thống Quảng Ngãi, tác giả: Trần Văn Nam (Trần Nam), TP. Hồ Chí Minh; 4. “Khúc tình Quảng Ngãi”; Tên ca khúc được chọn làm chủ đề chương trình/ sách nhạc, tác giả: Chinh Ngữ, tỉnh Đắk Nông;5. “Quảng Ngãi ngày về” là Ca khúc trữ tình có giai điệu và ngôn ngữ lời ca đẹp, tác giả: Vũ Kiến Thiết, TP. Hà Nội; 6. “Tự tình quê hương” là Ca khúc trữ tình có giai điệu và ngôn ngữ lời ca đẹp, tác giả: Nguyễn Văn Phượng (Văn Phượng), tỉnh Quảng Ngãi; 7. “Thoáng chiều Châu sa” là Ca khúc trữ tình có giai điệu và ngôn ngữ lời ca đẹp, tác giả: Trần Xuân Tiên, tỉnh Quảng Ngãi;8. “Quảng Ngãi tình quê” là Ca khúc trữ tình có giai điệu và ngôn ngữ lời ca đẹp, tác giả: Nhựt Phương, TP. Hồ Chí Minh.Đồng thời, nhằm tri ân về sự hợp tác và hưởng ứng đồng hành với cuộc thi của các nhạc sĩ Quỳnh Hợp và Khánh Trang, Ban Tổ chức quyết định trao tặng phần thưởng cho hai nhạc sĩ đã tham gia sáng tác (không dự thi) thông qua hai ca khúc, phần thưởng: 5 triệu đồng/người:1. “Ngồi bên trời bên biển” của Nhạc sĩ: Quỳnh Hợp, TP. Hồ Chí Minh;2. “Trở về” Nhạc sĩ: Khánh Trang (Ý thơ: Lê Văn Hỷ); TP. Hồ Chí Minh.Cuộc thi Sáng tác ca khúc về quê hương Quảng Ngãi lần 1 (2020-2021) đã nhận được sự quan tâm, tham gia nhiệt tình từ các nhạc sĩ và người yêu sáng tác âm nhạc trên khắp cả nước. Đây là sân chơi thú vị, nơi để những người yêu nhạc, các nhạc sĩ chuyên và không chuyên trên khắp cả nước thể hiện tình yêu với quê hương Quảng Ngãi thông qua các tác phẩm âm nhạc. Cuộc thi góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị về lịch sử – văn hóa của tỉnh Quảng Ngãi; khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu quê hương, đất nước trong mỗi người con đất Việt… 

Chính thức phát động từ ngày 10/02/2020, đến ngày 31/08/2020 (kết thúc thời gian nhận tác phẩm dự thi), Ban Tổ chức đã nhận được sự đăng ký và tham gia của 219 tác giả thuộc 34 tỉnh/thành phố trong cả nước, với 324 tác phẩm dự thi, với 2 vòng sơ loại, Ban Tổ chức – Ban Giám khảo đã chọn được 50 ca khúc vào chấm vòng chung khảo.Do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, trong thời gian dài, công tác tổ chức chấm giải gặp rất khó khăn và phải tạm hoãn nhiều lần. Sau nhiều nỗ lực, làm việc nghiêm túc trên tinh thần khách quan và công tâm, đến nay, Ban Tổ chức Cuộc thi đã lựa chọn và trao giải cho 13 ca khúc đoạt giải với tổng giải thưởng lên đến 380 triệu đồng.Về thời gian, địa điểm, hình thức tổ chức lễ trao giải… – Ban Tổ chức sẽ có thông báo đến các tác giả sau khi tình hình dịch Covid – 19 được kiểm soát.

DANH SÁCH 50 CA KHÚC VÒNG CHUNG KHẢO:

TTTÁC PHẨMTÁC GIẢ
1Bâng khuâng sông TràTrần Đức Lâm
2Bình yên nơi đảo xaPhạm Phước Nghĩa
3Cha đã giàĐinh Văn Vưa
4Chào Quảng NgãiNguyễn Khắc Hồi
5Chiều sông liêngNguyễn Anh Tuấn
6Đồng dao Sông TràĐào Ngọc Nam
7Đưa em về Quảng Ngãi yêu thươngNguyễn Đức Thuận
8Em hãy về cùng anhTrần Văn Hào
9Em về Quảng Ngãi quê anh Nguyễn Thiên Tuế
10Hành trìnhNguyễn Sỹ Hùng
11Hello Quảng NgãiCáp Xuân Anh Tài
12Khao lề thề lính Hoàng SaTrần Phú Thiên
13Khúc tình ca Cổ LũyTrần Thị Lài
14Khúc tình Quảng NgãiChinh Ngữ
15Minh Long – Thác trắng tình yêu tôi Nguyễn Văn Phượng
16Mơ về Quảng Ngãi Nguyễn Trọng Tĩnh
17Nghĩa tình hai quêPhan Hồng Trường
18Người Em Xứ QuảngTrương Quang Đô
19Nhớ Lọc Dầu Bình SơnNguyễn Thế Hiệp
20Nhớ Quảng NgãiPhạm Tuy
21Nhớ Quảng Ngãi Yêu ThươngNguyễn Hoàng Văn
22Nỗi nhớ sông quêLê Vinh Phúc
23Quảng Ngãi Đất Mẹ Ngàn HoaVõ Công Diên
24Quảng Ngãi không cam cũng ngọt đườngLê Trung Tín
25Quảng Ngãi mây chiều buông Vũ Trung
26Quảng Ngãi mình ơi Phan Thanh Hùng 
27Quảng Ngãi ngày về Vũ Kiến Thiết 
28Quảng Ngãi nghĩa tình Phạm Đăng  Khương
29Quảng Ngãi nỗi nhớ niềm thương Nguyễn Quỳnh Hợp
30Quảng Ngãi quê hương tôiNguyễn Xuân Bình
31Quảng Ngãi quê mìnhPhan Văn Dưỡng
32Quảng Ngãi quê taTrần Văn Nam
33Quảng Ngãi sáng ngời sắc xuân Vũ Trung
34Quảng Ngãi thành phố tôi yêuNguyễn Khắc Hồi
35Quảng Ngãi tình quêĐặng Thế Nhân
36Quảng Ngãi TôiNguyễn Hoàng Triều
37Quảng Ngãi xứ sở dịu dàngVũ Thị Thùy Oanh
38Sông Trà ngày vềTrương Quang Mân
39Sông Trà quê tôiTrần Quốc Lãm
40Thoáng chiều Châu SaTrần Xuân Tiên
41Tiếng hát Đặng Thùy TrâmPhạm Thanh Liêm
42Tiếng ốc u – Lễ khao lề thế lính Hoàng SaTrương Quang Tuyến
43Tình xuânTrần Xuân Tiên
44Trà Giang tình quêPhạm Hồng Sơn (b) – Ngô Đức Hành
45Trường Ca Mỹ Lai – Sơn MỹTrương Quang Đô
46Tự tình Quảng Ngãi quê emLộ Minh Nóc
47Tự tình quê hương Nguyễn Văn Phượng
48Về Quảng Ngãi cùng em Võ Xuân Hùng
49Về Quảng Ngãi quê anhNguyễn Văn Luyện 
50Yêu Quảng Ngãi quê mìnhHoàng Văn Thành

Nguồn: http://donghuongquangngai.vn

Tháng Mười 12, 2021 at 3:20 sáng Bình luận về bài viết này

Chùm thơ TRẦN THANH DŨNG – SÓC TRĂNG

TRẦN THANH DŨNG – SÓC TRĂNG

(Quê Đức Phong, Mộ Đức, Quảng Ngãi)

  1. con cúm núm gắp chiều lót ổ?

âm thanh miệt đồng xôn xao

ký ức vụn vặt bay mù trời tháng tám

Thu ướp mật làng quê

khuếch đại tiết điệu mưa rơi

ở bên trong chiếc lồng âm bản.

  • vặn nhỏ tiếng côn trùng lúc chạng vạng?

để lắng nghe những ký âm tự xếp đặt

dưới mái vòm trương nở của gió chướng

bóng tối luôn luôn thấu hiểu

trong khi mặt trời luôn luôn trốn chạy

khỏi những giấc mơ tự kỷ của con người.

  • lời tự sự ngọt ngào của ban mai

cũng không làm cơn giông nhỏ lại

ở cái xứ sở nóng ẩm mưa nhiều

mỗi bụi lúa cũng được thỏa thích tắm nắng tắm mưa

dòng sông đầy ăm ắp lời yêu thương hò hẹn

long lanh trên mỗi mắt lá ruộng đồng?

“cáo chết còn quay đầu về núi”

đặt bàn tay lên phiến nắng xanh rêu

người đồng bằng giàu lòng trượng nghĩa

câu lý điệu hò như cây lúa Trời

tự do mở về phía đất

theo cây phảng phát đồng gieo cấy những mùa xa?

  • ôi, thương hồ đâu ngã bảy, ngã ba?

đêm đêm vẫn nghe tiếng đờn cò vọng nhịp

chén thương hồ say khướt

văn hóa miệt đồng trôi trên mỗi khúc sông

lặn ngụp nổi chìm theo con nước

luôn bao dung tắm rửa sạch tâm hồn?

Tháng Chín 23, 2021 at 2:27 sáng Bình luận về bài viết này

CHUYỆN CỦA ĐOÀN

CHUYỆN CỦA ĐOÀN

Tôi sinh ra ở vùng sông nước An Giang. Một vùng quê bình yên ít nhộn nhịp người xe. Gia đình tôi không giàu nhưng đủ để lo cho mình có một cuộc sống đầy đủ. Sinh ra là con gái nhưng tâm hồn tôi đã ngược lại với dáng vẻ bên ngoài, điều đó tôi bắt đầu nhận biết khi học lớp 2.

Khi lớn lên, lúc mới tốt nghiệp phổ thông lúc ấy tôi đăng ký vào đại học Nam Cần Thơ ngành Luật. Ngày khai giảng, ở quê nhà bà ngoại tôi mất, bà là người dành lo lắng và chăm sóc tôi từ bé. Vốn dĩ vì mẹ tôi là con gái một trong nhà nên tôi ở chung với ông bà ngoại và mẹ từ nhỏ. Lúc chuẩn bị đi Cần Thơ học, bà ngoại vẫn mạnh khoẻ chẳng có bệnh chi. Nên khi bà mất đột ngột vì cú sốc quá lớn tôi không thể học tiếp nên tôi quyết định nghỉ học dù gia đình có khuyên bảo thế nào.

Từ đó, tôi cảm thấy mình nên mạnh mẽ hơn, tôi xin mẹ đi làm ở thành phố Long Xuyên – An Giang. Lúc ấy, mọi người rất ít ai chấp nhận chuyện thế giới thứ ba này. Nên không riêng gì tôi mà tôi nghĩ ai là người đồng giới lúc ấy đều rất mong muốn được chứng minh và công khai giới tính thật sự của mình trước xã hội và gia đình nhưng đều đó thật khó. Khi đi làm, lúc đấy tôi vừa trón 20 tuổi và tiếp xúc nhiều bạn bè ở Tp Long Xuyên có những bạn cũng đồng giới tính như tôi. Sau này, tôi có động lực hơn để chứng minh bản thân mình hơn. Điều đó không phải là học theo hay bắt chước với bạn bè để làm theo một xu hướng mà thực chất tôi là người của cộng đồng LGBT.

Gia đình tôi lúc đầu phản đối quyết liệt khi tôi cắt mái tóc dài và thay đổi cách ăn mặc như một đứa con trai. Đa phần vì tác động của họ hàng và người thân quen điều đó làm gia đình rất bức xúc, không ít lần lớn tiếng và kì thị. Thời gian trôi dần, gia đình cũng không gay gắt nhiều như vậy nữa.

Riêng bản thân tôi lúc ấy đang tìm kiếm một tình yêu và khi quen người con gái đó qua mạng xã hội. Dù nhiều người hay nghĩ quen qua mạng là tình yêu ảo nhưng với tôi và cô ấy đều cảm thấy rất chân thành và hạnh phúc, dù chỉ đơn giản là những lời nói. Gia đình cô ấy ở thành phố Huế nhưng cô ấy sống và làm việc ở Sài Gòn. Tình yêu của tôi có thể nói là xuyên cả không gian và thời gian vì khi yêu thật lòng thì dù xa mấy cũng hoá thành gần. Niềm tin dành cho nhau rất lớn đủ để chờ đợi và hy vọng. Nhưng thực tế lại quá phũ phàng với những gì cả hai đứa mong ước cho nhau. Ba mẹ T (T là tên cô ấy) vì tuổi đã già và là giáo viên nghỉ hưu nên gia đình rất lễ giáo. T nhiều lần than thở vì sao chúng mình yêu thương nhau lại rơi vào cảnh éo le như vậy. Mẹ T hay bảo dắt người yêu về ra mắt nhưng T không thể vì biết rằng gia đình T rất không chấp nhận tôi. T lại mang trong mình căn bệnh tim, ba mẹ T lại muốn người con trai là bác sĩ cũng là người từng phẫu thuật thành công cho T làm con rễ, Người đó ở Sài Gòn và cũng rất thương T.

Chuyện gì đến cũng sẽ đến, khi ba mẹ T thúc dục chuyện gã chồng để mẹ T bớt lo về sau, cuối cùng T cũng chấp nhận nghe theo. Và chúng tôi rất đau khổ khoảng thời gian đó. Khi T cùng chồng đi chụp ảnh cưới và ngày cưới đều phải gượng cười để có một bộ ảnh cưới như ba mẹ T mong muốn. Trước khi làm lễ cưới, T có nhắn tin cho tôi và thăm hỏi tôi đã ăn gì chưa? Lo sợ tôi đang khủng hoảng về tinh thần có thể nghĩ quẩn làm điều gì đó ảnh hưởng đến sức khỏe. Tôi đau đớn như lúc đó như có mũi dao xé lòng. Tôi không nghĩ tình yêu mình lại rơi vào cảnh dở khóc dở cười như vậy. T lấy chồng nhưng vẫn giữ liên lạc với tôi. Dù biết điều đó là không đúng nhưng hoàn cảnh lại bắt buộc tình yêu rơi vào điều có lỗi với đạo lý luân thường.

Sau đám cưới của người yêu, tôi cũng rất thất vọng dù vẫn còn rất thương và vẫn nhắn tin với người mình yêu mỗi ngày. T đối với chồng chỉ có nghĩa và chấp nhận lấy anh ta để trả cái ơn đã từng cứu sống T. Thật khó xử cho T khi phải chọn bên nghĩa bên tình như vậy. Tôi thông cảm và hiểu được tình yêu của T đối với mình… Nhưng ai cũng có lúc lầm lỗi, khi tình cảm mình trái ngang như vậy, tôi đã có quen một người làm chung, nói thương cũng chẳng phải mà nói yêu thì càng khó. Chỉ đơn thuần là tìm một niềm vui mới khi bản thân quá suy sụp. T ở xa nhưng vẫn tìm hiểu và biết được chuyện đó. T đã khóc rất nhiều và nhắn tin nói chia tay tôi. T quyết định lên Tây Nguyên một mình khi chồng T đã đi công tác, T vào một ngôi chùa tá túc khoảng thời gian đó tìm sự bình yên cho tâm hồn. Tôi rất lo lắng vì không liên lạc được với T. Những ngày sau đó, tôi có liên lạc được cô bạn thân T, thì mới biết T đang sốt và cứ gọi tên tôi. Khi tỉnh dậy T cứ ra ban công chùa đứng lặng một mình. Tôi rất ân hận khi mình làm điều có lỗi như vậy với người mình yêu thương. Vì không thể đến đó được nên tôi đã làm một video bằng tất cả tình cảm mình kèm chữ và ảnh gửi đến T. Và khi xem xong video T khóc rất nhiều, đã chịu ăn uống và hồi phục sức khoẻ dần và chúng tôi đã vui vẻ lại sau câu chuyện đó…

Gia đình tôi tuy chưa gặp T ở ngoài đời và chúng tôi cũng từng có nhiều hứa hẹn sẽ gặp nhau. Nhưng thời gian đó T hay bị ốm, bị ngất nằm viện lại giấu tôi sợ tôi lo lắng. Khi khoẻ lại thì nhắn tin cho tôi ngay. T thường nói với tôi chỉ cần tôi sống hạnh phúc và yêu thương T như vậy thì T sẽ vượt qua được bệnh tật. Niềm vui không bao lâu thì T sắp chuyển công tác ra Nam Định mở rộng thị trường và T cũng nói chồng sẽ đi cùng ra đó. Tôi biết vậy nên thấy thất vọng khi chuyện hẹn về gặp nhau lại càng khó xảy ra hơn, chồng T thì luôn đi cùng bên cạnh. Lúc đó… tôi ở đây đã quay lại với người yêu cũ nhưng vẫn không muốn T rời xa. Dù biết như vậy là có lỗi với cả hai nhưng mà tôi buộc lòng phải giấu T để T có thể vui vẻ trò chuyện với tôi mỗi ngày. Thiên hạ có câu “kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”, T đã biết chuyện đó nên cho tất cả là tôi giả dối, Lần này giận nhau không như lần trước, T vẫn chặn tất cả và quả quyết sẽ kết thúc câu chuyện tình. Cô bạn thân của T cũng giúp tôi để được nói chuyện với T nhưng vẫn không được. T chỉ nhắn lời rằng không hận gì tôi, chỉ muốn kết thúc và xem như T chưa từng tồn tại và một tuần sau T đã mất…

Ngày T mất đi tôi không hay biết gì. Đêm hôm đó tôi mơ thấy T,  trông rất tiều tụy và xanh xao nói với tôi “Em là T đây, nhìn em có xấu lắm không…? Em đã đi và lựa chọn cách như vậy để không còn đau đớn thể xác nữa”.  Trong giấc mơ tuy tôi không thấy rõ nhưng vẫn biết là người mình yêu. Trưa hôm sau tôi liên lạc được với cô bạn thân thì bàng hoàng biết tin T mới mất đêm hôm qua…

Với T là người tôi thương yêu nhất, tôi và T đi qua câu chuyện tình đẫm nước mắt và tình yêu của T dành cho tôi rất chân thành cho đến hơi thở cuối cùng. Ở một nơi rất xa, tận cõi vĩnh hằng T có biết Đoàn luôn nhớ về T, luôn đau đáu trái tim mình dù cuộc sống này bao bề bộn lo toan. Tình yêu chúng mình rất đẹp, T ơi!

                                                                    XT ĐOÀN (An Giang)

Tháng Chín 14, 2021 at 3:00 sáng Bình luận về bài viết này

Chùm thơ LÊ THANH HÙNG (Bình Thuận)

Chùm thơ LÊ THANH HÙNG (Bình Thuận)

Chiều ký ức

Đôi mắt em, chìm trong dáng núi

Chiều Sông Pha, trôi chậm qua đèo

Cứ chảy đi, đời sông, đời suối

Biết bên bờ, ai đó dõi theo …

                   *

Khi bóng nắng, treo chiều năm cũ

Nông trường xưa, se thắt một thời

Ký ức nào tưởng chừng yên ngủ

Lau trắng bờ sông, lay chơi vơi …

                   *

Thanh niên xung phong, hồn nhiên sống

Như rừng cây, hút gió nghiêng chiều

Lán trại nam, tứ bề gió lộng

Nghe “Ví dầu, nhà dột, cột xiêu” …

                   *

Thắp thỏm, chờ kẻng chiều réo gọi

Đằng kia, bếp lữa, dậy mùi thơm

Gõ chén hát, hát cho quên đói

Chờn vờn “Mãnh hỗ đợi giờ cơm”

                 *

Chuyện tiếu lâm, rung rinh lán trại

Những tháng năm, ăn mãi không no

Vẫn tròn căng, sắc màu con gái

Sống vô tư, không chút đắn đo

                  *

Những bàn tay, mài mòn cán cuốc

Nối hoa văn, những vết chai sần

Cơn sốt rét, nghe chừng quen thuộc

Mơ nắm tay em … chỉ một lần!

 Nổi niềm

… “Có ai đó, khi đời xế bóng

Sẽ hờn ghen, với ảnh chính mình xưa” …

                                                Simonov

Không có ai đúng và không ai sai

Chỉ là ta không còn chung suy nghĩ

Thì có bao nhiêu hàm ngôn, hoa mỹ

Cũng đổ trôi theo biển rộng, sông dài

                       *

Cơ hội khép dần, vòng đời chật hẹp

Khắc khoải u hoài, lần lữa giêng hai

Cái mới lạ, chắc gì đâu là đẹp

Sắc màu, rồi năm tháng cũng tàn phai

                       *

Phong sương nào, mòn vẹt một đời trai

Bổng nhiên gặp  “đồng hương” nơi xứ lạ

Xao động ngày xưa, một thời hoa lá

Ầm ỉ mơ trôi, choáng ngợp nắng mai …

                       *

Chiều vỡ toang, lối mòn treo dĩ vãng

Thời gian nào, rơi lược giắt, trâm cài ?

Dựa lưng trời, xanh một màu bảng lãng

Nghe tiếng hoàng hôn, vóng vót  bên tai

                        *

Tuổi xuân chín bên kia bờ ảo vọng

Nuối tiếc hoa niên, ray rứt đêm dài

Trôi vòng sống,  cuốn thời gian mở đóng

Cho nỗi hoài hương, ngơ ngác miệt mài

                                                   IX/15

Đâu là dấu chỉ lệch pha

Anh đâu có gì để bảo đảm cho em

Căn nhà trống, chỏng trơ sách vở

Gió lật ghim cài, phất phơ những tờ phiếu nợ

Cứ nhịp phập phồng như tiếng búa gõ vào đêm

                        *

Cứa toạc không gian, rướm máu cặp môi mềm

Nét dằn dỗi lạnh lùng toan tính

Hạnh phúc không thể ngủ yên trong xó xỉnh

Dấu tình này cũng chỉ để lãng quên

                       *

Nhìn vẩn vơ, ảo mộng chảy lần qua

Cứ day trở trong nỗi niềm gió tốc

Chưng hửng bước, rẽ ngang rẽ dọc

Con đường quen, mà ký ức đã mờ xa

                       *

Chợt nhớ những chiều ngồi nhấm nhẳng nhấm nha

Góc phố vắng, một ước mơ chật hẹp

Lãng đãng trôi, hình như có điều gì gượng ép

Biết đó là dấu chỉ lệch pha

                       *

Khát vọng của em, trong đó không có anh

Cứ mơ tưởng điều này không có thật

Dù năm tháng quẩn quanh, một vụng tình rơi đâu mất

Chỉ còn lại bên đường, dãi nắng biếc – ngời xanh

Phố xưa

Chiều tàn rơi, rụng bên đường

Còn đây phố cũ, gió sương vơi đầy

Chuyện ngày xưa, mắt mờ cay

Xuôi chân, lạc lối quay về chốn xưa

Chiều bến sông

Nhẹ như cánh võng bên thềm

Chiều buông xuống muộn, ngọt mềm trăng lên

Sóng xa, vỗ cửa sông, duềnh

Vắng em, chợt thấy lênh đênh bến đời.

Tháng Chín 12, 2021 at 7:49 sáng Bình luận về bài viết này

Tôi đã “đạo” văn như thế nào

Tôi đã “đạo” văn như thế nào

(Nguồn: Vanhocsaigon) Mấy hôm nay trên mạng diễn ra một cuộc tranh luận hiện đang còn bất phân thắng bại. Song điều đó không mấy quan trọng. Trong tranh luận văn nghệ, đôi khi quan trọng không phải kết quả. Quan trọng là quá trình và… thái độ. Tôi rất lấy làm mừng, lần tranh luận này đã mở ra một vấn đề khá cơ bản của lí luận và thực tiễn sáng tác văn học: liên văn bản và đạo văn. Đã đến lúc cần phân biệt thế nào là liên văn bản và thế nào là đạo văn.

Không khí tranh luận tuy nóng, nhưng không ai nóng tính, tranh luận bằng văn chữ, không bằng võ chữ. Ấy là tôi mới chỉ nhận xét về một bên. Còn phía bên kia, đại diện là nhà thơ Trần Mạnh Hảo, người cho rằng bài thơ Mùa thi đổ lửa của Văn Gía đăng trên Văn Nghệ bộ mới, là đạo ca từ trong bài Ngẫu hứng phố của Trần Tiến, không hiểu sao còn chưa đưa ra ý kiến của mình, nên tôi không lạm bàn.

Nhà phê bình Đào Tuấn Ảnh

Và tôi có ý chờ các nhà lí luận vào cuộc. Cuối cùng thì nhà lí luận Nguyễn Văn Dân hôm qua cũng đã xuất hiện và đưa hẳn lên tút mục từ “Liên văn bản” trong cuốn từ điển Mĩ học sắp ra của ông. Sau khi tiếp thu ý kiến của độc giả đòi phân biệt giữa đạo văn với liên văn bản, lát sau ông, không giải thích sự khác biệt giữa 2 khái niệm này, mà đưa hẳn 2 trích đoạn nói về đạo văn của một nhà nghiên cứu nước ngoài. Tôi xin chép lại nguyên văn:

1/ “Những nghiên cứu về liên văn bản cho thấy tác phẩm giống như một bản viết trong đó các văn bản chồng lấn lên nhau đến vô cùng. Từ đó, đạo văn được xếp vào trong một thủ pháp thẩm mỹ viết lại và cùng lúc nó thoát khỏi mọi nội hàm đạo đức để trở thành một vấn đề văn học thực sự”. (tôi nhấn mạnh bằng gạch chân câu).

2/ “Theo quan điểm này, đạo văn tỏ ra là một dạng liên văn bản ‘hợp pháp’, thậm chí là một hành vi sáng tạo thực sự. (…) nhìn từ góc độ thẩm mỹ, nó hoàn toàn ‘có thể tha thứ được’ và thậm chí còn có thể tạo ra một tác phẩm độc đáo” (Marie-Hélène Beaudry, 2011).

Nếu tin tưởng ý kiến của nhà liên văn bản học này, thì chỉ còn nước thốt lên: ôi trời, có thế thôi mà mấy ngày nay cứ ầm ĩ hết cả lên! Mới biết cái từ “đạo văn” ở ta nó khiếp thật, tội đạo văn được xếp trên tội tham nhũng và sau mỗi tội phản quốc! Có điều, để phân biệt thứ đạo văn “chân chất”, diễn nôm là “thuổng”  mà ta không khó nhận ra ở một vài cuốn sách, những luận văn, luận án (chép y xì cả đoạn dài khự, thậm chí vài chục trang với đầy đủ các dấu chấm dấu phẩy), thì phải rất lưu ý tới điều cốt lõi mà hai đoạn trích nêu trên nhấn mạnh: “thủ pháp thẩm mĩ viết lại”, “hành vi sáng tạo thức sự”, “tạo ra tác phẩm độc đáo”. Điều đó có nghĩa, cũng một thủ pháp nghệ thuật, một chất liệu ngôn từ, mô típ, hình tượng… nhưng người đi sau phải cho ra được sản phẩm Mới, có tính sáng tạo, tức tạo được trường nghĩa mới có khả năng mở rộng để tham gia vào các liên văn bản khác và đầy chất thẩm mĩ. Nó khác hẳn với sự bệ nguyên xi cái của người khác rồi chắp vá vào sản phẩm của mình, không sáng tạo, phi thẩm mĩ, bởi nó chỉ là một mụn vá!

Để hiểu thêm vấn đề tôi dẫn ra đây cuộc đối thoại giữa tôi và nhà vật lí – nhà văn Gia Ninh Trần trên fb (không hiểu sao các nhà tự nhiên thường khi rời bỏ lĩnh vực của mình toàn nhảy sang văn chương nghệ thuật). Ông viết: “Mỗ viết văn nghiệp dư, chả học hành trường lớp gì, chỉ có đọc sách đông tây kim cổ, đủ thứ tiếng có thể hiểu. Thế chắc chắn là văn phong ý tứ, câu chữ của thiên hạ chui vào đầu cả đống, chả biết của ai nữa, thành một mớ hổ lốn nó nhảy múa trong đầu, vô thức viết ra, thế nào cũng bị quy là đạo văn rồi. Vậy thì nhận tội trước là đạo văn vô thức cho nó lành, khỏi phiền đến các văn nhân, nhà phê bình chuyên nghiệp. (Bác nhà văn này rất giống bần cố nông xưa, chưa gì đã nhận mình là địa chủ với đầy đủ tội lỗi để đỡ bị vu, quy thành phần, do đó đỡ bị đấu tố). Và tôi đã trả lời: “Anh nói thành lí luận rồi đấy ạ. Cái mớ hỗn độn chứa trong vô thức ấy chính là phông nền văn hóa. Đọc ai đó dễ nhận thấy cái phông nền đó mỏng hay dầy”. Người viết mà phông nền văn hóa (cũng là một thứ liên văn bản) mỏng như lưỡi mèo thì việc thuổng văn của người khác là điều không khó hiểu lắm. Còn nếu dầy, thì việc gì phải xoắn trước những lời vu vạ!

Trong cái tút trích đoạn kết truyện Bà đỡ, tôi cũng tự nhận mình “đạo văn” và mời mọi người tìm ra cái sự đạo ấy. Kết quả: người cho rằng câu cuối cùng: “Bà ơi, thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình” – là ca từ của Trần Tiến (lại Trần Tiến!). Nhưng cho rằng tôi “không đạo” vì nói rõ “lắng nghe tiếng nhạc trong con tim đang thổn thức” và ca từ của Trần Tiến được in nghiêng. Có người thì cho rằng câu đầu là đạo Dế mèn; người khác – đạo tận bài thơ Em bé Hiroshima của ông Nazim Hickmet! Cuối cùng họa sĩ Ba Tỉnh đoán đúng, câu “dõi theo khói hương vẽ nẻo, tôi ngước nhìn lên chốn cao xanh” là đạo từ câu thơ “Khói hương vẽ nẻo đường lên niết bàn” trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của Nguyễn Duy. Nhưng vẫn chưa đủ, tôi còn đạo một câu thơ nữa của ông, khi viết “Mùa thu năm ấy tôi về quê thăm bà ngoại giờ chỉ còn là một nấm đất phủ đầy cúc dại, khúc tần.…”. Những ai từng đọc và nhớ thơ Nguyễn Duy, hẳn biết ý này có trong bài thơ nào của ông.

Vấn đề đạo văn và liên văn bản là vấn đề phức tạp và tinh tế, đòi hỏi được chú ý để: phát triển, bổ sung vào lí thuyết liên văn bản (điều các nhà lí luận của ta có thể làm và làm tốt được); đóng góp thiết thực cho những thực hành thẩm mĩ của giới sáng tác; ngoài chuyện vạch rõ hành vi phi đạo đức của những kẻ lười và vô trách nhiệm khi thuổng văn của người khác, quan trọng hơn, còn là cố gắng đừng làm tổn thương đạo đức, tinh thần của người khác. Nhưng với một bài trên Fb không thể viết dài và thấu đáo được. Tuy vậy, tôi cũng cố nói thêm một chút: Từ những điều viết trên đây, thấy rõ rằng, tôi mới chỉ nói tới đạo văn như một hành vi thẩm mĩ, như sự đồng điệu trên mọi cấp độ của các văn bản, như thước đo phông nền văn hóa của người viết và người đọc. Nói ngắn gọn, mới chỉ nói tới khía cạnh tiếp nhận và ảnh hưởng của văn học. Đạo văn (tức là khái niệm mang tính tích cực mĩ học như Marie-Hélène Beaudry khẳng định) còn rất nhiều các khía cạnh khác nữa, mà ở đây tôi chỉ có thể nêu thêm một cái nữa thôi, để phòng tránh những điều dở khóc dở cười có thể xẩy ra, đó là sự tương đồng về cấu trúc tư duy-xúc cảm của những người sáng tác trước những hiện tượng giống nhau. Trong bài viết gần đây của nhà văn Đinh Văn Chinh, có chi tiết ông gọi là “quy chiếu rộng” khi nói tới sự giống nhau (tới 7 chữ) giữa 2 câu thơ, 1 của Hà Tốn (?-518) “Mây mỏng bay lên từ đá núi/ Trăng non nhô lên trên sóng” và 2- của Đỗ Phủ (712-770)  “Mây mỏng ngủ nhờ trên đá núi/ Trăng lẻ vươn mình trên sóng khơi” và khẳng định Suốt 1251 năm qua, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam không ai bảo Đỗ Phủ đạo thơ của Hà Tốn. Và ông nhận xét: “Riêng cá nhân tôi, tôi thán phục Đỗ Phủ ở chỗ, có mấy thứ vật liệu như nhau mà qua bàn tay phù thủy Đỗ Phủ, vẻ đẹp ngôn từ trở nên sang trọng, lộng lẫy khác thường”. Cứ giả sử Đỗ Phủ có  đạo thơ của Hà Tốn đi (ngày ấy thơ ít, tác gỉa ít, họ đọc của nhau nhiều, chứ chả như bây giờ, người nào viết kẻ ấy đọc, cùng lắm là bắt vợ/chồng đọc). Thì có làm sao, khi câu thơ, nhờ tài Đỗ Phủ mà “trở nên sang trọng, lộng lẫy khác thường”!. Chưa hết, cái sự tương đồng tư duy-xúc cảm trước hiện tượng tự nhiên “mây, núi” này còn khiến cho Lermontov ở thế kỉ 19 đã cho ra câu thơ tương đồng: “Đêm. Mây vàng ngủ lại/ Trên ngực đá khổng lồ” (mà A, Chekhov đã lấy làm đề tựa cho thiên truyện Dọc đường của ông). Bảo 2 cụ kia đạo nhau còn được, chứ bảo Lermontov đạo của 2 cụ kia thì chỉ là những người phông nền văn hóa mỏng như lá lúa, hoặc bằng o. Lại nữa, trong Kiều có câu “Thuyền tình vừa ghé tới nơi/ Thì đà gương vỡ bình rơi bao giờ” còn thủ lĩnh của chủ nghĩa Vị lai Nga Maiakovski thì có câu “Thuyền tình va phải đời thường vỡ tan”. Hình tượng “thuyền tình” có thể bơi tới bất cứ nơi đâu, neo đậu ở bất kì bài thơ nào “Chỉ có thuyền mới hiểu, biển mênh mông nhường nào”…

Trên đây là câu chuyện về đạo văn. Tôi buộc phải viết hơi dài, không phải để thanh minh cho bài thơ Mùa thi đổ lửa của Văn Gía, vì bài thơ ấy không cần phải thanh minh. Văn Giá không đạo-thuổng của ai hết. Anh sáng tạo ra bài thơ của mình; cũng không tranh luận với nhà thơ Trần Mạnh Hảo, vì bạn bè cùng trang lứa như anh Văn Chinh từng khuyên ông rồi, là đừng có làm ầm lên vì một chuyện không đâu vào đâu, mà ổng còn không nghe. Huống hồ tôi, một người không đủ tài và tầm để phá đổ bất cứ định kiến nào, nhất là định kiến của người có tuổi.

Điều tôi muốn ở đây, là thông qua câu chuyện này đặt và giải quyết (ở mức độ nào đó) một vấn đề quan trọng của lí luận và sáng tác văn học: liên văn bản. Có chút tri thức này rồi thì chúng ta, nhỡ có thấy ai đó dùng một hình tượng giống mình, cốt truyện na ná mình, một tứ thơ tương tự… thì cũng đừng vội nhảy dựng lên quy kết họ đạo văn mình. Cả một sinh mạng văn chương đấy.

Bài viết đã ngang ngửa một bài nghiên cứu. Tôi hứa sẽ không quay lại đề tài này.

ĐÀO TUẤN ẢNH

Tháng Tám 13, 2021 at 7:40 sáng Bình luận về bài viết này

PHÂN BIỆT THƠ VÀ NHỮNG TÁC PHẨM “GIỐNG NHƯ THƠ”

PHÂN BIỆT THƠ VÀ NHỮNG TÁC PHẨM “GIỐNG NHƯ THƠ”

Nguyễn Vũ TiềmTrong thời kỳ “bùng nổ” của thi ca, người người làm thơ, nhà nhà làm thơ… đã không ít ý kiến luận bàn. Tuy nhiên, người làm “thơ” không hiểu thơ đã đành, nhưng ngay cả những người phê bình (đặc biệt người phê bình là công chúng nói theo hiệu ứng đám đông) cũng không hiểu thơ là gì. Và như vậy vô hình chung chúng ta cứ ào ào phê phán sự bội thực của thơ ngày nay; song nếu xem trên thực tế, thì liệu có bao nhiêu tác phẩm là thơ đúng với khái niệm mà nó hàm chứa?Để giúp bạn đọc có thêm cảm hiểu về vấn đề này, chúng tôi trân trọng giới thiệu cuộc trao đổi thú vị với nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm.

Phóng viên (PV): Thưa nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, trong cuốn “Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam” xuất bản năm 2000 và sau đó tái bản nhiều lần, ông có nêu tiêu chí của thơ là: -Xúc cảm khác thường -Suy nghĩ khác thường -Cách nói khác thường. Gọi tắt là X-S-C. Qua hơn mười năm, hiện nay phong trào sáng tác thơ phát triển rất đông đảo, tiêu chí “khác thường” này có còn phù hợp không?

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm (NVT): Khi đọc cuốn sách Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam, Giáo sư Hoàng Như Mai viết bài đăng báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, có biểu dương bài đề dẫn của tôi trong cuốn sách ấy, trong đó có tiêu chí về thơ mà bạn vừa nói đến. Tôi nghĩ, dù thời gian trôi đi, tiêu chí ấy vẫn nguyên giá trị.

PV: Nhưng nhiều tập thơ (nhất là ở các địa phương) được in ra nhìn chung là có sao viết vậy, hình ảnh câu chữ rất “bình thường”, tiêu chí “khác thường” sao còn phù hợp nữa?

NVT: Nếu một bài thơ mà “có sao viết vậy” thì là ca vè chứ không phải thơ, nó chỉ giống như thơ mà thôi.PV: Ông có thể cho bạn đọc biết rõ hơn về sự khác nhau giữa thơ và ca vè?

NVT: Tôi gọi ca vè là chỉ chung những bài “giống như thơ” nhưng gần với ca dao, hò vè hơn là thơ. Nhưng thế nào là thơ? Hầu như mỗi người làm thơ đều có tiêu chí riêng, định nghĩa riêng, tìm câu trả lời chung là rất khó. Vì thế, xin nêu ví dụ phân biệt thơ và ca vè.Hai câu thơ quen thuộc và rất hay của nhà thơ Chế Lan Viên:”Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt Gỗ trăm cây đều muốn hóa nên trầm”Gié lúa và cây gỗ là thứ vô tri, nó đâu biết mơ ước đến những điều cao siêu ấy, mà chính là cảm xúc, ý tưởng của nhà thơ về chúng mà thôi. Ở hai câu này nhà thơ dùng thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa.Nếu làm ca vè chỉ cần viết:”Lúa vàng hạt mẩy đồng taTrầm hương gỗ quý, bao la trên rừng”Ca vè thường thể hiện trực tiếp sự vật, tả chân, phù hợp với đề tài người thật việc thật. Nhà thơ Trương Nam Hương có hai câu thơ về uống rượu với bạn:”Nâng ly bạn dốc trời xanh cạnQuơ đũa khà say gắp tiếng chim”.Nếu là ca vè chỉ cần viết như bữa rượu bình thường:”Nâng ly bạn dốc vài hơi cạnQuơ đũa khà say gắp thịt bò” (hoặc thịt gà…).“Dốc vài hơi cạn” thì ai cũng uống như thế cả. Nhưng “dốc trời xanh cạn” thì chỉ có nhà thơ mới có kiểu uống như thế. “Gắp thịt gà” thì ai cũng gắp được, nhưng “gắp tiếng chim” thì chỉ có nhà thơ mơi gắp được mà thôi. “Gắp thịt gà” thì ăn được, nhưng không thơ; “gắp tiếng chim” không ăn được, nhưng lại rất thơ. Trong thơ thường kết hợp thực và ảo. Nếu chỉ toàn thực cả rất dễ thành ca vè.Trong bài “Rừng U Minh cháy”, nhà thơ Tuyết Nga viết:”Tro của tiếng chim, của lá của hoaBay lả tả trong chiều cùng xác nắng”.Nếu là ca vè chỉ cần viết:”Lửa thiêu rừng lá rừng hoaTro tàn lả tả loang ra nắng chiều”.Người bình thường chỉ nhìn thấy tro của lá hoa, cây cành, nhưng nhà thơ còn nhìn thấy cả “tro của tiếng chim”. Người bình thường chỉ nhìn thấy xác của xúc vật, nhưng nhà thơ còn nhìn thấy cả “xác nắng” nữa. Thực ra tro và xác ấy chỉ là ảo chứ không thực nhưng nhờ đó mà câu thơ có hồn, có chiều sâu cảm xúc, suy tư.Từ những ví dụ trên, rút ra mấy điểm:Ca vè: Thể hiện trực tiếp sự vật (có sao viết vậy). Thơ: Thể hiện cảm xúc, suy tưởng của nhà thơ về sự vật ấy.Ca vè: nói những điều bình thường, diễn tiến hợp lý, những điều hiển nhiên nhiều người đều biết và nghĩ giống nhau. Thơ: Nói những điều khác thường, những điều mọi người không nghĩ tới, hoặc chưa nghĩ tới. Có thể có những chi tiết tưởng như phi lý (phi lý hình thức, nhưng hợp lý nội dung).Ca vè cũng cần thiết trong đời sống, đối tượng người tham gia và thưởng thức rất đông. Viết ca vè khá dễ dàng, nhiều trường hợp người không biết chữ cũng có thể sáng tác ca vè bằng thể văn vần lục bát rất thành thạo. Ca vè “có thế nào viết thế” cứ y như thật mà viết ra, có vần, có nhịp, gọn gàng là được. Họ hàng gần với ca vè là tấu, diễn ca, gọi chung là văn vần. Thơ có yêu cầu khắt khe về nghệ thuật, không thể viết trực tiếp mà thường là thông qua các “gián cách thẩm mỹ” đó là những hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, mượn cớ này để nói cái kia cốt gây ấn tượng và tạo nên sự ám ảnh khôn nguôi.Ca vè phần lớn là nghĩa đen. Thơ thường là nghĩa bóng.Tuy nhiên “ranh giới” thường không mấy khi rành mạch bởi tính chất dao động của hình ảnh, hình tượng, ngôn từ vần nhịp, nhiều khi chúng lồng ghép trong nhau. Trong thơ có một phần nhỏ ca vè; trong ca vè có một chút ít thơ…

PV: Người quen viết ca vè mà chuyển sang làm thơ có khó khăn lắm không, thưa ông?

NVT: Người làm ca vè, tấu, diễn ca chuyển sang làm thơ có nhiều thuận lợi, nhưng khó khăn không nhỏ. Do thói quen dễ dãi của ca vè, tấu, diễn ca giờ chuyển sang làm thơ, cần đọc, nghiên cứu, lao động nghệ thuật nhiều mới có thể thành công. Nhưng quan trọng nhất là sự thay đổi này: từ tư duy lôgíc chuyển sang tư duy hình tượng. (Tư duy lôgíc: nhìn sự vật vận động tự nhiên như nó vốn có. Tư duy hình tượng: nhìn sự vật vận động theo tâm tưởng của nhà thơ, không giống như tự nhiên). Thay đổi thói quen này rất khó, là thử thách lớn nhất với người làm thơ. Ở đây nó tạo nên dấu ấn riêng của mỗi người, không ai giống ai.Người làm thơ đòi hỏi có năng khiếu thẩm mỹ, quan trọng nhất là cảm xúc phải mãnh liệt, trí tưởng tượng bay bổng, đắm say, đặc biệt là suy tưởng phải có chiều sâu và tầm khái quát cao, cuối cùng là sự khổ luyện suốt đời không mệt mỏi… Vì thế những người thành công về thơ không nhiều. Người đã thành công rồi cũng trồi sụt, lúc này thơ, lúc khác ca vè hay cùng một bài, khúc này thơ, khúc khác ca vè là chuyện thường chứ không chỉ ở cơ sở, câu lạc bộ mà thôi .Một bài thơ thường phải sửa chữa nhiều lần.

PV: Nhà thơ Nga Joseph Brodsky (giải Nobel Văn học 1987) nói rằng hầu hết các bài thơ, ông phải sửa tới 100 lần: Ông có nhận xét gì về phong trào sáng tác ở cơ sở hiện nay?

NVT: Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa lành mạnh rất đáng khuyến khích. Nhiều nơi chọn tên gọi rất đúng là “Câu lạc bộ những người yêu thơ ca” gọi tắt là “Câu lạc bộ thơ ca” gồm những người yêu thơ ca, những người vừa làm thơ vừa làm ca vè . Vv… Nhưng tôi thấy không nên lãng phí trong việc in ấn tràn lan thiếu chọn lọc. Có vị mỗi năm in một tập “giống như thơ” nhưng “cứ gọi là thơ” có vị in mật độ nhiều hơn, giấy tốt, đắt tiền mà giá trị chả có là bao. Khiến người ta có cảm giác như người “làm thơ” nhiều hơn người đọc thơ; người in thơ nhiều hơn người mua thơ.Hiện nay những tờ báo khó tính chỉ đăng thơ chứ không đăng ca vè, tấu, diễn ca (loại này cũng có một số báo đăng, nhưng ít). Thế cho nên các tác giả phải xin giấy phép rồi tự bỏ tiền ra in, tặng bạn bè. Một số người tổ chức tập hợp nhiều tác giả rồi đầu tư in, bán. Người góp bài trong đó mua là chính. Có rất nhiều nhầm lẫn gọi ca vè, tấu, diễn ca là thơ, các nhà xuất bản cấp giấy phép cũng không nói gì, mặc nhiên công nhận, một số báo, tạp chí cũng vậy, gây nên sự ngộ nhận (nhiều khi tranh cãi gay gắt) rất phiền phức và không kém phần tai hại.

PV:: Xin cảm ơn nhà thơ về cuộc trao đổi thẳng thắn và bổ ích này.

THIÊN HƯƠNG thực hiện ( Nguồn: Báo Giáo dục & Thời đại)

Tháng Tám 13, 2021 at 4:02 sáng Bình luận về bài viết này

VĂN NGHỆ SĨ TIẾP SỨC PHÒNG, CHỐNG COVID-19

VĂN NGHỆ SĨ TIẾP SỨC PHÒNG, CHỐNG COVID-19

(Nguồn: Báo Quảng Ngãi)- Với niềm đam mê nghệ thuật và trái tim chia sẻ yêu thương hướng về vùng dịch, đội ngũ văn nghệ sĩ Quảng Ngãi đã tích cực sáng tác và có nhiều hoạt động thiết thực, góp phần truyền năng lượng tích cực, động viên các lực lượng tuyến đầu và nhân dân ra sức chống dịch Covid-19.

Hướng về miền Nam

Những ngày qua, các hội viên nghệ sĩ nhiếp ảnh ở Quảng Ngãi đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực, hướng về người dân ở TP.Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam đang gặp khó khăn do dịch Covid-19. Họ đã tập hợp những bức ảnh nghệ thuật chất lượng do mình sáng tác để bán qua mạng xã hội nhằm quyên góp quỹ giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn.  

Anh Nguyễn Tấn Cư, công tác tại Đài PT-TH Quảng Ngãi, chia sẻ, nhiều người dân nghèo quê Quảng Ngãi vào Nam mưu sinh gặp khó khăn do dịch bệnh, vì vậy anh em nhóm nhiếp ảnh mong muốn góp chút công sức để hỗ trợ người dân sớm vượt qua giai đoạn khó khăn. Hoạt động này thu hút nhiều anh em nhiếp ảnh tham gia. Riêng tôi cũng đã bán được 10 ảnh. Số tiền thu được từ bán ảnh, nhóm sẽ ủng hộ toàn bộ cho hoạt động hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh.

Bên cạnh đó, Chi hội Nhiếp ảnh tỉnh còn vận động hội viên đóng góp ủng hộ công tác phòng, chống dịch trong tỉnh với số tiền gần 20 triệu đồng. Riêng hội viên nhiếp ảnh Nguyễn Văn Xuân đã ủng hộ 10 triệu đồng hỗ trợ trực tiếp cho đồng bào nghèo ở huyện Ba Tơ bị ảnh hưởng do dịch Covid-19.

Truyền năng lượng tích cực

Trong thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, nhiều hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật tỉnh đã tăng cường sáng tác, với mong muốn truyền năng lượng tích cực, động viên lực lượng tuyến đầu và nhân dân ra sức đẩy lùi dịch bệnh. Chứng kiến hoạt động nghĩa tình của nhân dân các địa phương trong tỉnh chung tay hỗ trợ nhu yếu phẩm gửi vào miền Nam,  nhà thơ Phan Bá Trình đã sáng tác bài thơ “Sâu nặng tình người”.  

Còn nhà thơ Trần Thế Phương sáng tác bài thơ “Tấm lòng Quảng Ngãi”. Nhà thơ Hồ Nghĩa Phương có bài thơ “Nơi ta sẽ trở về” với những vần thơ truyền năng lượng tích cực. Ngoài ra, còn có truyện ngắn “Trách nhầm” của Phạm Văn Hoanh; tản văn “Nỗi lo mùa dịch” của tác giả Hồ Nghĩa Phương… với những câu chuyện cảm động, khích lệ, động viên người dân nâng cao ý thức phòng, chống dịch…

Nhạc sĩ Văn Phượng – Trưởng phòng Chuyên đề (Đài PT-TH Quảng Ngãi) sáng tác và thể hiện ca khúc “Sài Gòn tôi nhớ” để sẻ chia tình cảm với Sài Gòn thân yêu, với người thân đang trong cuộc chiến chống Covid-19 đầy cam go: “Sài Gòn ơi sao nhớ/ Hình như tôi xa đã lâu rồi/ Sài Gòn ơi mong lắm/ Bình an yên vui đến mọi nhà/…Sài Gòn mãi trong tôi/ Sài Gòn dẫu có gian nguy/ Sài Gòn phố sẽ đông vui…”. “Bài hát là tình cảm của tôi đối với Sài Gòn, với bạn bè, người thân nơi đây. Cùng với đó là niềm tin Sài Gòn sẽ vượt qua gian nguy, thành phố sẽ lại đông vui, chiến thắng đại dịch”, nhạc sĩ Văn Phượng chia sẻ.

Bên cạnh đó, nhạc sĩ Văn Phượng còn có ca khúc mới ra mắt: “Một lần xa”, phổ thơ Hoàng Thân. Ca khúc là lời động viên chống dịch, chấp hành tốt quy định cách ly. Nhạc sĩ Minh Châu cũng có ca khúc đầy xúc động “Blouse trắng em đi”, phổ thơ Nguyễn Thánh Ngã:“Chiều Côvid em đi, áo blouse trắng…/Nơi đó bàn tay cách ly bàn tay/ Nụ hôn ly cách nụ hôn/ Em mang trái tim nồng thắm/ Em đem trái tim nồng ấm/ Xoa dịu vết đau này…”. Nhạc phẩm “Điểm tựa niềm tin” của tác giả Tấn Thành cũng mang đến giai điệu đầy cảm xúc, tri ân lực lượng chiến sĩ công an ngày đêm góp sức nơi tuyến đầu chống dịch: “Tôi xin hát về người chiến sĩ/ Nơi tuyến đầu chống dịch Cô RôNa / Và tôi xin hát ngợi ca người chiến sĩ cảnh sát giao thông/…Đã bao đêm thức trắng, đã bao ngày dầm mưa dãi nắng/ Chốt phòng dịch nơi đây luôn có các anh chung sức, chung tay ngày đêm canh giữ…”.

KIM NGÂN

Tháng Tám 12, 2021 at 3:04 sáng Bình luận về bài viết này

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “MẸ HIỀN” TRONG TẬP THƠ “KHÚC XA QUÊ” CỦA TÁC GIẢ SÓNG THU

CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “MẸ HIỀN” TRONG TẬP THƠ “KHÚC XA QUÊ” CỦA TÁC GIẢ SÓNG THU

Nhận được tập thơ “Khúc xa quê” của tác giả Sóng Thu (Nguyễn Thị Thu Ba) quê Quảng Ngãi hiện sinh sống ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh gửi tặng. Cháu lần giở đọc từ bài thơ đầu đến bài thơ cuối và cuối cùng chọn bài thơ “MẸ HIỀN” để cảm nhận với tình cảm trân quí đối với tác giả về người mẹ hiền của mình. Bài thơ như một lời tâm sự chia sẻ về nỗi nhớ quê hương, nhớ bóng mẹ hiền chợt hiện về ảo mờ trong tâm hồn tác giả.

Mở đầu bài thơ Sóng Thu đã cho người đọc cảm nhận được nỗi nhớ Mẹ nơi quê hương yêu dấu:

Chiều bên phố

Mà lòng sao trống vắng

Nghe tâm hồn

Thầm lặng nhớ Mẹ yêu

         Lặng lẽ nhìn ra góc phố nhỏ, nơi không có tình thương che chở của mẹ, tác giả lại cảm thấy dường như trái tim mình đang có một khoảng rộng “mà lòng sao trống vắng”. Khoảng rộng ấy chính là mảnh ghép cuối cùng khi cuộc đời tác giả có mẹ, vắng mẹ, trong lòng tác giả như rất vắng vẻ. Chính cái nỗi nhớ da diết ấy mà tâm hồn cũng thầm lặng nhớ đến mẹ yêu. Ngôn từ bình dị, đơn giản, gần gũi làm nổi bật được nỗi nhớ mẹ của người con phương xa, phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe tâm hồn” đã làm cho đoạn trích trở nên sinh động. Tâm hồn đó không lên tiếng nhưng ta có thể nghe, ta có thể cảm nhận được cái sự thầm lặng khi nhớ đến mẹ yêu

Nhớ thân hình

Nhỏ nhắn bước liêu xiêu

Mái tóc bạc

Như đọng nhiều sương khói

Tác giả nhớ về mẹ, nhớ cái bóng hình nhỏ nhắn, cùng với bước chân liêu xiêu ngày nào. Từ “liêu xiêu” như gợi tả những bước đi khó khăn của mẹ bởi cái tuổi già sức yếu, và những lần mẹ gục ngã bởi bước chân nặng trĩu với những cơn đau đang ngày đêm giày xéo mẹ. Không những thế, tác giả đã miêu tả được mái tóc bạc phơ của mẹ một cách khôn khéo: phép so sánh “như đọng nhiều sương khói” gợi lên rất có hồn mái đầu bạc phơ, mỏng manh như làn “sương khói” của mẹ, cũng có thể là mái tóc mẹ bạc đi vì sương khói bếp lửa quê, nhưng cũng có thể là vì mẹ phải tảo tần lo từng miếng cơm manh áo cho các con mà bước người nhỏ nhắn liêu xiêu. Cách dùng từ nhẹ nhàng, uyển chuyển, tác giả Sóng Thu đã làm rõ được hình dáng của người mẹ già yêu dấu của mình:

Trời ngả xế

Bóng Mẹ hiền mòn mỏi

Bỗng hiện về

Trong nỗi nhớ khôn nguôi

           Khi bình minh dần dần lặng xuống, trời bắt đầu ngả xế tà; hình ảnh, bóng dáng của Mẹ hiền bỗng nhiên hiện về trong tâm trí tác giả với một sự mòn mỏi. Mẹ mòn mỏi vì tần tảo kiếm ăn sớm khuya, mẹ mòn mỏi vì lo con ở phương xa lập nghiệp liệu có thành. Cái hình ảnh ấy bỗng hiện về trong nỗi nhớ khôn nguôi, một nỗi nhớ mẹ đến da diết tưởng chừng như có lẽ chẳng bao giờ nguôi được. Giọng thơ có giọng điệu buồn, trầm lắng mang đến nhiều xúc cảm trong lòng người đọc, thể hiện nỗi nhớ mẹ sâu đậm mà tác giả dành cho người phụ nữ bạc trắng mái đầu đang ở nơi phương xa:

Niềm xót thương

Bao cay đắng ngậm ngùi

Con lầm lũi

Trên nẻo đường không mẹ

           Nỗi nhớ ấy cứ mãi khôn nguôi mà mỗi ngày càng trở nên da diết với những nỗi đau thương xót, sự cay đắng ngậm ngùi cho thân phận của mình khi phải bương chải nơi đất khách quê người, phải tự bước đi trên nẻo đường lạ lẫm mà không có bàn tay nâng niu, dìu dắt của mẹ. Không được gần bên Mẹ để chăm sóc, báo hiếu những năm tháng Mẹ lầm lũi nơi chái bếp vì đứa con thơ của chính tác giả. Ngôn từ sâu lắng, ảm đạm như chẳng thể nào buồn hơn nữa làm nổi bật lên được sự cô đơn, buồn tủi khi không có bên cạnh Mẹ của tác giả. Liệu những ngày tháng sau này, tác giả có được hạnh phúc sống trọn đời bên Mẹ?

Xuân phai dần

Nụ tháng ba chợt hé

Mùng Tám về

Nhưng Mẹ, con quá xa

Ở khổ thơ thứ năm này, người đọc có thể dễ dàng nhận ra không khí ấm áp của mùa xuân đang dần phai nhạt theo năm tháng. Tháng Ba – Tháng cuối cùng của một mùa xuân cũng đã về. Cụm từ “nụ tháng Ba” cho ta thấy được không khí tươi sáng, mang một năng lượng, một niềm vui mới đến với mọi người, đặc biệt là với những người phụ nữ tuyệt vời như mẹ. Nhưng buồn thay, mùng Tám tháng Ba năm ấy tác giả đã không được bên người mẹ thân thương, kính mến của mình. Từ “nhưng” trong câu thơ thể hiện một nỗi niềm thầm kín, sự ngậm ngùi từ sâu bên trong tâm hồn của tác giả. Thông qua đó, người đọc có thể nghe được tiếng lòng của tác giả như muốn gửi gắm một lời xin lỗi chân thành đối với mẹ khi không bên cạnh, chăm sóc mẹ như bao người con hiếu thảo khác. Khổ thơ này tuy mộc mạc, giản dị nhưng chứa đựng biết bao tình cảm dạt dào, thương nhớ vô bờ bến của người con đã xa mẹ của mình. Như bao người con khác, tác giả muốn bên mẹ, quan tâm và chăm sóc vào những ngày đặc biệt như thế này…nhưng… khoảng cách quá xa khiến tác giả không thể thực hiện

Chỉ trải lòng

Theo dòng chữ – lẵng hoa

Dâng tặng mẹ

Thiết tha niềm thương kính

Ngậm ngùi với biết bao niềm thương nhớ về người mẹ đã xa của mình. Tác giả chỉ biết trải lòng mình với những câu thơ giàu tình cảm như lời cảm ơn của mình và những lẵng hoa thiêng liêng gửi tặng mẹ. Chính những món quà bé nhỏ nhưng vô cùng sâu sắc này như đã bắc một nhịp cầu nho nhỏ trong trí tưởng tượng của mình để có thể gặp và gửi những món quà từ sâu bên trong lòng đến người mẹ già đáng kính của mình. Ở câu thơ cuối của khổ thơ này, người đọc có thể cảm nhận được sự nhớ nhung đến khó tả của tác giả, một niềm thương cảm thiết tha, sự tin yêu vô bờ rất xúc động và đáng phải kính trọng đối với người mẹ già đang trông chờ ở nơi phương xa

Không chỉ riêng tác giả mà chính ta cũng rất nhớ mẹ những lúc xa nhà. Xa vòng tay ân ái, chở che tháng ngày của Mẹ chính là một nỗi mất mát như chẳng còn gì có thể sánh bằng. Với ngôn từ sâu lắng, cảm xúc, tác giả đã đưa người đọc đến với bức tranh buồn sầu về nỗi nhớ mẹ khôn nguôi. Những dòng thơ tựa khúc ca mùa thu mang lại hơi ấm trong lòng người đọc, mở lối cho những kí ức khó phai của chính trong lòng của tác giả đến với bạn đọc. Dù cho ở xa cách muôn nghìn trùng, ánh mắt và tấm lòng của Sóng Thu vẫn luôn hướng về nơi có tiếng ru à ơi của mẹ, nơi có bóng dáng tảo tần mẹ yêu.

NGUYỄN VŨ CẨM GIANG (học sinh lớp 11 – Trường THPT chuyên Lê Khiết – Quảng Ngãi)

Tháng Bảy 23, 2021 at 8:21 sáng Bình luận về bài viết này

Bút ký “Tiếng vọng”: Những thước phim của Hồ Nghĩa Phương

Bút ký “Tiếng vọng”: Những thước phim của Hồ Nghĩa Phương

9 Tháng Sáu, 2021202

Phạm Văn Hoanh

(Vanchuongphuongnam.vn) – 27 bút ký trong tập “Tiếng vọng” của Hồ Nghĩa Phương như 27 thước phim về những miền quê mà anh đã từng đến. Nó phản ánh những góc cạnh, soi rọi từng góc khuất của đời sống của từng vùng miền một cách tường tận nhất, với những nỗi niềm hoài niệm, trăn trở, suy tư.

PHẠM VĂN HOANH (Quảng Ngãi)

Nhà thơ Hồ Nghĩa Phương tên thật là Hồ Văn Minh, quê ở thị trấn Sông Vệ, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, nguyên Phó chủ tịch Hội Văn học – nghệ thuật Quảng Ngãi. Anh đi nhiều và viết nhiều. Đến đâu anh cũng ghi lại những điều tai nghe mắt thấy bằng những lời văn, lời thơ bình dị, chân thành. Những lời văn, lời thơ ấy qua thời gian thai nghén đã cho ra đời những đứa con tinh thần: “Nhật Ký thời gian” (Thơ-2008), “Dấu chân” (Thơ-2011). “Đối diện tôi” (Thơ-2015). Và mới đây, tháng 9 năm 2020 anh cho ra đời tập bút ký “Tiếng vọng” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn).

27 bút ký trong tập “Tiếng vọng” của Hồ Nghĩa Phương như 27 thước phim về những miền quê mà anh đã từng đến. Nó phản ánh những góc cạnh, soi rọi từng góc khuất của đời sống của từng vùng miền một cách tường tận nhất, với những nỗi niềm hoài niệm, trăn trở, suy tư.

Đọc bút ký của Hồ Nghĩa Phương, ta không chỉ mê mẩn bởi lối kể chuyện giản dị, gần gũi, mà còn cảm thấy hấp dẫn bởi “Tiếng vọng” của anh như níu kéo người đọc trở về thời quá khứ, khiến họ như được gặp lại mình của ngày xưa. Bởi anh kể chuyện của riêng mình, của địa phương mình, nhưng thật ra đó là chuyện chung của nhiều người. “Tôi sinh ra và lớn lên bên dòng sông Vệ, thị trấn quê tôi (Chợ Trạm) nằm bên bờ Bắc sông Vệ là một trong những thị tứ của tỉnh… Dòng sông Vệ bắt nguồn từ rừng núi giáp ranh Kon Tom – Quảng Ngãi, hợp lưu nhiều suối nguồn khác mà thành… Dòng sông yêu thương này đã ghi dấu trong tôi ăm ắp kỷ niệm tuổi thơ. Mỗi chiều về tôi cùng chúng bạn ra sông bày ra nhiều trò chơi con trẻ thật hồn nhiên vô tư như thi: bơi, lặn, chạy, nhảy… tổ chức trận đánh giặc giã giữa hai phe của xóm…” (Dòng sông vẫn chảy). Những câu, từ bình dị chân thành nhưng có sức lay động người đọc bởi nó dạt dào vốn sống, chan chứa tình yêu, giàu hình ảnh. Đọc xong bài bút ký những người đã qua cái tuổi “tri thiên mệnh” vẫn cảm thấy mình trẻ lại thời thơ ấu. “Ta yêu lắm những trò chơi thời con trẻ những chiều hè gió mát thả diều, lặn bắt cá tôm, trò chơi giặc giả… đùa nghịch giỡn nhau lấm lem bùn cát, hãy cho tôi trở lại tuổi thơ bên dòng sông quê hương, thấm sâu ân nghĩa” (Cuối năm nhìn lại).

Không chỉ Chợ Trạm và Sông Vệ mà những tên làng, tên đất, những bến đò cũng lần lượt hiện lên qua ống kính của anh. “Tôi nhớ hàng dừa, lùm tre và bụi chuối bên nhà ông Bụi soi bóng nước. Những thửa ruộng gần đó thay đổi màu theo vụ mùa… Thời gian vụt qua thật nhanh, nhìn lại mới đó mà đã hơn nửa thế kỷ. Thỉnh thoảng tôi có dịp quay trở lại những nơi đặt bến đò cũ thì dấu vết xưa đã không còn, thay vào đó là những chiếc cầu bê tông cốt thép, vững chải nối đôi bờ” (Tiếng vọng). Phải là người nặng lòng với quê hương, với dòng sông, bến nước, con đò, luôn hướng về một cuộc sống tốt đẹp mới viết nên những câu văn biểu cảm hay như vậy. Vì yêu quê hương nên trong mỗi bút ký, anh thường ghi lại những suy tư, trăn trở, mong ước đi tìm cách để bảo tồn nét đẹp bình dị, giữ gìn nét văn hóa trong cuộc sống hiện đại. “Một điều ước nữa mà tôi không biết bao giờ xã Nghĩa Phương triển khai được, đó là khu du lịch sinh thái Cấm Ông Nghè” (Những ngọn núi quê hương). Lần giở đọc các bút ký “Thành phố Quảng Ngãi – tầm nhìn và xu thế phát triển”, “Có một phố cũ và một Bích Khê ven sông Vực Hồng”, “Thu Xà vùng đất nhớ thương”, “Biển Mỹ khê điểm nhấn du lịch ở thành phố Quảng Ngãi”… ta sẽ thấy được nỗi niềm trăn trở của anh. Trái tim của anh rung động trước những đổi thay của thành phố Quảng Ngãi. “Có một thành phố Quảng Ngãi sẽ phát triển du lịch khi đời sống người dân khá hơn, nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng là tất yếu. Chỉ có điều ta phải làm gì để phát triển bền vững, không nóng vội chạy theo lợi ích trước mắt mà phá vỡ cảnh quan kiến trúc…” (Thành phố Quảng Ngãi – tầm nhìn và xu thế phát triển). Hồ Nghĩa Phương đã có một cách quan sát tinh tế, một sự cảm nhận tài hoa, một cách viết nhẹ nhàng, biểu cảm và đầy chất thơ. Hầu như các vùng miền ở tỉnh Quảng Ngãi có cảnh đẹp hoang sơ tự nhiên anh đều đặt chân đến và ghi lại. Đọc “Đến với núi Thình Thình”, “Ốc đảo xóm Lân”, “Gò Cỏ vùng đất ẩn chứa nhiều dấu tích”, “Bùi Hui trong tầm mắt tôi”, “Thác Cao Muôn – muôn đời vẫn thẳm xanh”, “Những ngọn núi quê hương”, “Về Bình Dương yêu con sông quê hương trong thơ Tế Hanh”, “Lý Sơn – vùng biển đảo thân yêu”… ta sẽ thấy những suy tư, trăn trở của anh.

Bút ký “Tiếng vọng”, Hồ Nghĩa Phương viết bằng cả một tâm hồn văn chương tinh tế, đọc lên nghe như những câu thơ ngân nga làm ta khó quên.

Tháng Bảy 13, 2021 at 8:15 sáng Bình luận về bài viết này

QUAN NIỆM VỀ THƠ VÀ THƠ HAY QUA GÓC NHÌN CỦA HỌC TRÒ

QUAN NIỆM VỀ THƠ VÀ THƠ HAY QUA GÓC NHÌN CỦA HỌC TRÒ

Dạy học nhiều năm, tôi từng nêu câu hỏi theo vấn đề kể trên cho học trò. Sau đây là một số câu trả lời của học viên Cao học Văn. Mời anh chị em cùng đọc, xem các học viên có cái nhìn và suy nghĩ về thơ như thế nào:

  1. Nội dung là quan trọng và đòi hỏi phải có hình thức đẹp ;lạ cho nó.Nhưng không phải hai vế ấy bao giờ cũng tương xứng.Khi nào tương xứng thì có bài thơ hay.

2. Cảm xúc ,suy tư ,triết lí nhân văn như bột làm bánh. Nhà thơ là thợ làm bánh vụng hoặc giỏi. Có cái bánh thơ rất ngon nhưng hình thức xấu vụng và ngược lại.

3. Nội dung của thơ như gỗ và có gỗ tốt gỗ xấu. Nhà thơ như người thợ mộc có tài hoặc bất tài. Có trường hợp gỗ xấu mà vào tay thợ giỏi nên vẫn có một sản phẩm gỗ đẹp, đánh lừa khách hàng được một thời gian. Có trường hợp gỗ tốt mà gặp tay thợ vụng. Đáng tiếc lắm thay.

4. Thơ hay như hoa hồng bất ngờ nở sớm nay trước nhà, tưởng như ngẫu nhiên. Thực ra bông hoa ấy là kết quả tất yếu của quá trình tích tụ dinh dưỡng lâu dài của bộ rễ, quang hợp lâu nay của muôn lá… Có trường hợp chính nhà thơ cũng không nhận biết rạch ròi về quá trình tích tụ lâu dài ấy. Cứ bảo thơ là trời cho…

5. Hình thức nghệ thuật của thơ như ánh chớp. Nội dung đi kèm với nó như tiếng sét. Vì diễn ra nhanh quá nên cứ ngỡ diễn ra đồng thời, không thể phân định rạch ròi. Nhưng là hai hoạt động, hai mặt vừa độc lập vừa giao thoa gắn bó máu thịt.

6. Có nhà thơ nói chữ là quan trọng nhất. Làm thơ là làm chữ. Chao ôi. Các chữ không mang nghĩa và không có liên kết nghĩa hàm ẩn thì chỉ là hệ thống kí tự vô nghĩa được xếp tùy tiện bên nhau. Là nơi để một nhà thơ kém tài lòe thiên hạ.

7. Mỗi nhà thơ lại có quan niệm riêng của mình về thơ. Thật khó đi tới một định nghĩa thống nhất. Nhưng vẫn có thể đưa ra một khái niệm khái quát như sau:

– Một thể loại văn học đặc biệt nhất đòi hỏi một kiểu tổ chức ngôn từ đặc biệt. Đầu tiên phải có những cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ đúng và hay. Phải đúng đã rồi mới mong hay. Không đúng thì hay nỗi gì. Cái đúng và hay ấy vừa phải mang tính điển hình vừa phải mang tính vĩnh hằng. Chỉ đúng và hay trong một giai đoạn thì đó là thơ xu thời. Dù vẫn có thơ hay của từng thời để rồi mơ ước thơ hay của muôn đời. Sau đó cái nội dung ấy lại tìm được một hình thức biểu hiện mới, lạ – đẹp… Có thế mới là thơ hay…

8. Thơ trẻ hôm nay bị chê nhiều hơn khen. Chê nhiều vì nó lạ, độc, khác hẳn món ăn thơ người đọc quen ăn hàng thế kỉ qua. Độc lạ chưa chắc đã hay. Nhưng thơ hay hôm nay nếu có thì phải độc lạ về hình thức biểu hiện. Dù rất ngưỡng mộ nhưng hôm nay vẫn viết như Chế Lan Viên; Xuân Diệu; Nguyễn Đình Thi… thì vứt thơ đi. (Bởi viết theo cách viết của thần tượng thì suốt đời là cái bóng của thần tương. Sự lặp lại là cái chết của nghệ thuật ).

9. Có nhiều bác nhà thơ cứ gặm nhấm vinh quang quá khứ, lấy thơ mình làm thước đo thì thơ hay, nhất là thơ trẻ chết hết. Tất nhiên vẫn có một vài nhà thơ già chịu học nên vẫn vượt lên hàng đầu.

10. Có vài bài thơ được giải xôn xao gần đây, như bài Mẹ chửi kẻ trộm ấy. Về nội dung không đúng và không hay vì mang hơi hướng tư tưởng yêu thương tha thứ cho cả kẻ thù của tôn giáo. Về hình thức lại đi giật lùi về thời Em tắm của Cầm Vĩnh Ui. Thế sao lại được giải ạ? Trên đây là một số ý kiến về thơ của học viên cao học. Đọc thấy thú vị. Muốn chia sẻ cùng anh chị em và bè bạn.

Copy từ Trang Fb NHÀ VĂN (Tác giả: NGUYỄN ĐỨC HẠNH)

Tháng Bảy 13, 2021 at 7:57 sáng Bình luận về bài viết này

Bài đăng cũ hơn


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 428 141 Người

Chuyên mục