Posts filed under ‘MAI BÁ ẤN’

HỒ NGHĨA PHƯƠNG – THỜI GIAN VÀ DẤU CHÂN HÀNH TRÌNH ĐẾN ĐỐI DIỆN TÔI

HỒ NGHĨA PHƯƠNG – THỜI GIAN VÀ DẤU CHÂN HÀNH TRÌNH ĐẾN ĐỐI DIỆN TÔI

                                                                                       – Tiến sĩ LLPB Văn học MAI BÁ ẤN

Nghe có hơi lạ! Bắt đầu oe oe tiếng khóc chào đời đến khi đầy tháng, cha mẹ đặt cho một cái tên thì đó là chính mình rồi chứ còn gì nữa mà phải làm một cuộc hành trình dài đến thế? Thì Hồ Nghĩa Phương tên thật là Hồ Văn Minh, sinh năm Ất Mùi (1955) bên bờ con sông Vệ hiền hòa (xã Nghĩa Phương nay là thị trấn Sông Vệ, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi) rõ ràng đó mà thôi! Nhưng đó là cuộc đời thực, còn cuộc đời thơ thì đúng là… anh phải làm một cuộc hành trình khá dài với nhiều những dấu chân in lại không ít gian nan để đến được với chính mình: tôi đối diện tôi! Trong thư tâm sự cùng tôi, anh viết: “Tôi đến với thơ văn như sự tình cờ hoặc theo lẽ tự nhiên vì tôi làm một công việc khác ít có liên quan đến văn học nghệ thuật”. Có lẽ đầu tiên đó là sự “tình cờ”. Bởi từ thời còn ngồi ở ghế nhà trường phổ thông, anh cũng chưa hề có một dự định thi ca nào. Đến khi vào ngành Công an – một ngành ít có liên quan đến văn chương như anh nói thì cái “lẽ tự nhiên” nó lại đến: “Cả cuộc đời và tình yêu của tôi dành cho thơ văn là có thực, trên bước đường công tác hay lúc thư giãn nghỉ ngơi, lúc ngồi trước màn hình máy vi tính, trong đầu tôi, chữ nghĩa, câu thơ, câu văn cứ vậy mà tuôn chảy, sau đó mới trau chuốt lại”. Nghĩa là, đối diện với công việc, ngẫm suy về từng sự việc diễn ra (mà toàn những sự việc liên quan đến con người), đôi lúc, anh lại thấy cần có những câu thơ. Đầu tiên là để bày tỏ những suy ngẫm chính mình, sau đó “trau chuốt lại” để thành những câu thơ ban đầu, chủ yếu là tức cảnh/ tức sự… sinh tình.

(more…)

Tháng Tư 29, 2022 at 4:02 sáng Bình luận về bài viết này

Những vần thơ tạ ơn đời

Những vần thơ tạ ơn đời

 

 

(Báo Quảng Ngãi)- Tháng 4/2022, nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng tròn 62 tuổi. Anh đã trải qua thời gian 40 năm nằm một chỗ, chống chọi với bạo bệnh. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng đã “tự đua tự đấu với chính mình” để giành giật từng giây phút sống, để khát khao những điều bình thường nhất “Cho tôi được tự tay mình rửa măt/ Tự mình đi đôi dép của mình” (Điều tôi ước) và vươn lên để có ích cho đời.

Đêm 19/4, UBND huyện Nghĩa Hành cùng Hội VH-NT tỉnh tổ chức đêm thơ – nhạc: “Nguyễn Ngọc Hưng – Nghiêng bóng chiều vẫn râm mát trời quê”, để ghi nhận nghị lực phi thường của nhà thơ tài hoa. Đọc “Tuyển tập thơ Nguyễn Ngọc Hưng”, người yêu thơ không khỏi xúc động và cảm phục. Đây là sách được Nhà nước đặt hàng, ấn hành năm 2018, chia ra làm 10 đề tài chính. Cách đặt tên đề tài đầu tiên là Cõi riêng và đề tài cuối cùng là Hướng sống đã phần nào thể hiện con đường đi từ cái tôi bất hạnh của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng đến với một lý tưởng sống hiến dâng cái đẹp cho đời. Xin được điểm qua những vần thơ tâm huyết của nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng Hưng từ 10 đề tài trong “Tuyển tập thơ Nguyễn Ngọc Hưng”.

(more…)

Tháng Tư 24, 2022 at 2:00 sáng Bình luận về bài viết này

TRẦN HỮU SƠN VÀ NHỮNG KHÚC TÌNH THI VÀNG BÓNG THỜI GIAN – ÂM VANG BIỂN SÓNG

TRẦN HỮU SƠN VÀ NHỮNG KHÚC TÌNH THI VÀNG BÓNG THỜI GIAN – ÂM VANG BIỂN SÓNG

                                                                                                           – Tiến sĩ, Nhà văn Mai Bá Ấn

            Nói về Trần Hữu Sơn thật khó biết bắt đầu từ đâu. Lý lịch trích ngang của anh cũng rất đơn giản: Sinh 1960 trong một gia đình nông dân, nơi một vùng quê nghèo ven biển, đang học phổ thông, năm 1978, anh được lệnh gọi nhập ngũ. Là con trai một, anh thuộc diện không được sang chiến trường K, vậy là được chuyển sang lực lượng thanh niên xung phong thực hiện nghĩa vụ tại một huyện vùng sâu Đăk Lăk. Do có trình độ học vấn và công tác tốt, anh được rút về Ban Kinh tế mới, được cử đi học tiếp, rồi học sư phạm để “làm nghĩa vụ”… dạy học mấy năm trên cao nguyên đất đỏ. Mãn nghĩa vụ, là con trai một, anh đành rời Tây Nguyên, về quê lập gia đình, làm nông phụng dưỡng cha mẹ già kiêm đủ mọi nghề để kiếm sống và cũng để… tiếp tục làm thơ. Cho nên, với Trần Hữu Sơn, tôi chỉ biết đọc thơ anh để nắm bắt những tư riêng ám ảnh của đời anh. Qua thơ, tôi đoán rằng, có lẽ anh xuất thân từ một gia đình có truyền thống yêu văn chương, từ nhỏ đã ham đọc sách, mê làm thơ, thích giao du với giới làm văn chương nghệ thuật nên năng khiếu thơ ca ngày càng phát triển. Tôi phỏng đoán thế bởi anh mê thơ Đường và là một cây thơ Đường khá chắc tay trong các Hội Đường thi! Điều này được minh chứng qua hai tập thơ của anh đã trình làng. Hai tập xuất bản cách nhau đến 3 năm (Miền trăng – 2016 và Tháp cát – 2019) mà tập nào cũng chiếm tỷ lệ lớn thơ Đường luật (tổng cộng là 55 bài Đường luật trên 193 bài thơ). Và có lẽ ưu nhược điểm của thơ Trần Hữu Sơn khởi xuất từ yếu tố gốc này.

            Tôi cố đọc mặc dù xưa nay, quan niệm của tôi về thơ Đường luật có khác. Đường thi phải nằm trong không khí Đường thi riêng biệt theo một trường cảm thụ thẩm mỹ riêng, không thể đan nhòe cùng các thể loại thơ khác. Tôi lấy làm tiếc, giá như Trần Hữu Sơn tách hẳn 55 bài Đường luật này để in một tập riêng thì những bài Đường thi của anh sẽ được cảm nhận khác hẳn so với việc trộn lẫn vào trong hai tập thơ chung này. Vì với thơ Đường, việc tìm cho ra bản ngã của cái tôi trữ tình và cái nét riêng độc đáo câu từ của tác giả rất khó do sự nghiêm ngặt của luật thơ. Thông thường, ở đó, với sự khuôn phép của câu chữ, niêm luật, ta chỉ nhận ra một tâm trạng rất chung chung của người thơ khi đứng trước vũ trụ, tự nhiên hoặc một sự kiện lịch sử, một danh nhân…cùng với những cặp từ Hán Việt đăng đối rất khái quát và trang trọng theo yêu cầu thể loại! Nhưng có lẽ do Trần Hữu Sơn quá yêu thơ Đường nên cái không khí Đường thi quá vãng đã phủ trùm lên thi tứ, do đó, ta dễ nhận ra trong thơ anh (tất cả các thể) bảng lảng bóng thời gian và pha nhuộm một sắc vàng của những kỷ niệm đẹp mà buồn của những cái đã đi qua, đã mất đi, chỉ còn vang bóng lại…

(more…)

Tháng Một 22, 2022 at 8:47 sáng Bình luận về bài viết này

Ở QUÊ MÀ VẪN NHỚ QUÊ

Ở QUÊ MÀ VẪN NHỚ QUÊ

(Nguồn: Báo Quảng Ngãi)- Nghe có vẻ lạ, nhưng với Nguyễn Mậu Chiến là thế đó, vẫn cứ yêu da diết và nhớ hoài cuộc sống, quang cảnh làng quê yên bình, để rồi “mãi nhớ quê” qua những vần thơ.  

Từ ngày xuất hiện trên thi đàn cho đến nay, Nguyễn Mậu Chiến vẫn gắn mình với quê nhà ở Tú Sơn, xã Đức Lân (Mộ Đức). Anh ít đi xa, nhất là từ ngày mắt anh mờ đi sau một cơn bệnh nặng. Thi thoảng, bị rủ rê lắm, anh mới cực chẳng đã… về với phố thị Quảng Ngãi cùng bạn bè.

Gặp Nguyễn Mậu Chiến đầu tiên ở trại sáng tác kịch nói Quy Nhơn từ thời còn là tỉnh Nghĩa Bình, tôi ấn tượng ở anh bởi cái duyên hài hước chứ hoàn toàn không phải cái sâu lắng của thơ. Vậy mà càng về sau, càng luống tuổi, Nguyễn Mậu Chiến lại càng gắn bó với thơ. Nguyễn Mậu Chiến sinh năm 1956, là người có bề dày công tác trong lĩnh vực văn hóa – văn nghệ ở địa phương. Đến nay, anh đã có hai tập thơ riêng “Sông quê vẫn chảy” (2013), “Vọng quê” (2019) và nhiều tác phẩm trong hàng chục tập thơ in chung khác.  

Đọc thơ Nguyễn Mậu Chiến, tôi cứ ngẫm nghĩ sao mà nhiều tha phương đến vậy khi anh vẫn ở ngay trên mảnh đất quê nhà. “Rồi em bước theo chồng/ Ta thành người lữ thứ/ Mang nỗi nhớ đi rong/ Rao hoài không bán được/ Sông quê dềnh con nước/ Ta về lại bến xưa/ Đâu rồi thuở đón đưa/ Nao lòng chiều bến vắng” (Sông quê). Và, sao mà nhớ quê đến vậy khi anh vẫn gắn mình với mảnh đất quê hương: “Vẫn là nỗi nhớ nao lòng/ Bên bồi, bên lở dòng sông quê nhà/ Ăn khoai lang, nhớ mắm cà/ Khổ nghèo đất mẹ nuôi ta nên người” (Lục bát gọi về).

Nguyễn Mậu Chiến  “day dứt hoài nỗi nhớ” quê ngay chính lúc đang đứng bên bờ giậu quê: “Bờ giậu thưa/ Mắt nâu nhỏ thân yêu/ Ta thờ thẫn/ Day dứt hoài … nỗi nhớ!” (Niệm Khúc). Chưa thỏa mãn, anh lại tự ly hương để đẩy nỗi nhớ quê về phía bề sâu của “gừng cay muối mặn”: “Chút gừng cay, muối mặn/ Ấm lòng người xa quê/ Kỷ niệm gọi ta về/ Tiếng mái chèo khoan nhặt!” (Sông quê). Cũng chính nỗi nhớ quê thường trực trong lòng, mà cứ mỗi bận có dịp xa quê là “cơ hội” anh để cảm xúc trào dâng, tràn vào thơ mình nỗi nhớ quê như một kẻ tha phương thực sự: “Ngọt lịm Bài Chòi lòng cứ đinh ninh/ Xuân nữ diết da, trữ tình hò Quảng/ Bao tâm sự với xàng xê, cổ bản/ Khiến kẻ tha hương lòng cứ bồi hồi” (Nghe hát bài chòi lòng lại nhớ quê).

Ở quê lại nhớ quê chính là lòng yêu quê hương đến như là máu thịt. Bởi thế, thơ Nguyễn Mậu Chiến đằm thắm một tình yêu non sông đất nước: “Tổ quốc…/ Là dần, sàng, nong, nia mẹ phơi, mẹ sảy/ Là những con diều giấy vi vút triền đê/ Là bến sông quê nơi đợi chờ, đưa tiễn/ Là khói lam chiều quyện chái bếp nhà ai” (Tổ quốc… những điều đơn giản nhất). Gắn với đất quê nên Nguyễn Mậu Chiến thành công hơn ở các thể thơ truyền thống. Với thơ tự do, anh sử dụng như một kẻ chưa quen biết. Bài thơ “Niệm khúc” dưới đây, mới đọc cứ tưởng là thơ tự do, nhưng kỳ thực, nếu ghép hai dòng lại thành một câu theo thứ tự thì… anh vẫn chỉ dám dùng thủ pháp ngắt dòng thể thơ bảy chữ và tám chữ truyền thống mà thôi: “Đêm tĩnh lặng/ Những giọt buồn năm cũ/ Bước chân quen/ Lớp cỏ đã phủ dày/ Nụ hôn đầu/ Thèn thẹn thơ ngây/ Đã rụng vỡ/ Làm môi mềm se sắt” (Niệm khúc). Vì vậy, mong anh mãi làm kẻ “lông bông” trên chính quê mình với các thể thơ truyền thống đơn sơ, chân chất thốt lên tự lòng mình: “Em một thời hoa cỏ/ Ta một thời lông bông” (Sông quê). Gọi Nguyễn Mậu Chiến  “ở quê mà vẫn nhớ quê” chính là như vậy!

MAI BÁ ẤN

Tháng Mười 26, 2021 at 8:45 sáng Bình luận về bài viết này

tran-anh-kiet-hoang-nguyen(1937 – 2016)

 HOÀNG NGUYÊN (TRẦN ANH KIỆT) – GÓP VỚI ĐẤT TRỜI MỘT CHÚT XANH

                                                                 – Tiến sĩ MAI BÁ ẤN

 

Anh như một thiên thần đang bỡ ngỡ

            Nương vào Em… bay đến cõi trăng sao (Cõi vĩnh hằng).

Hoàng Nguyên (Trần Anh Kiệt) vĩnh biệt chúng ta, đi vào “Cõi vĩnh hằng”  đầu giờ Mẹo ngày mồng 9 tháng 5, Bính Thân (13/6/2016). Hai câu thơ này trong bài thơ “Cõi vĩnh hằng” anh đề ngày 12/6. Như vậy, chỉ đúng chưa đầy một ngày trước khi anh rũ “xác phàm” làm “thiên thần” bay đến “cõi trăng sao” – nơi người vợ hiền anh đang đợi sẵn.

Sinh năm 1937 nơi quê nghèo Mộ Đức, anh theo cha tập kết ra Bắc, học hành rồi lại về Nam tham gia kháng chiến. Hòa bình, đoàn tụ lại trở về với quê thực hiện vai trò “kẻ sĩ” và vĩnh viễn ra đi trong thanh thản, nhẹ nhàng. Nghĩa là, cuộc đời Hoàng Nguyên (Trần Anh Kiệt) là chứng nhân đủ mọi phân tán, chia ly, đoàn tụ… của cả một thời kỳ lịch sử, và… trọn vẹn thủy chung với mảnh đất quê nghèo.

Nhưng thôi! Cái cuộc hành-trình-đời-người ấy, anh đã thể hiện trong bài “Thơ tự điếu mình” trước khi rời khỏi phàm trần (mà sẽ được in ở trang thơ này). Giờ đây, nhân tuần 49 ngày của anh, tôi chỉ muốn trở về với tâm nguyện của anh (mà cũng là cảm nhận của tôi về anh) để nói về một con-người-thơ-đích-thực: Hoàng Nguyên.

(more…)

Tháng Chín 13, 2016 at 8:26 sáng Bình luận về bài viết này

“CHÚT NẮNG CHO HOA HỒNG” – CẢ MỘT TRỜI CỐ HƯƠNG VỜI VỢI…

12189054_509967359170212_2499469835378277623_n_zpsj64zivo6

“CHÚT NẮNG CHO HOA HỒNG” – CẢ MỘT TRỜI CỐ HƯƠNG VỜI VỢI…

(Đọc tập thơ Chút nắng cho hoa hồng của Nguyễn Ngọc Hưng, Nxb Văn học, 2015)

                        

             Với Nguyễn Ngọc Hưng, 33 năm (1983-2015) làm thơ với 15 thi phẩm ra đời là 33 năm anh nằm một chỗ vì bạo bệnh. Hưng chẳng đi đâu, chẳng đến được đâu nhưng lại đến được với thơ. Hoặc cũng có thể thơ tự tìm anh mà đến. Hay nói một cách chẳng thơ chút nào, là: Với Hưng, 33 năm qua, thơ đến từ trên giường bệnh chứ chẳng là đâu cả. Chẳng phải từ trên mây trời lãng đãng, chẳng phải từ bí mật âm ty, chẳng phải từ Nát bàn của Phật, cũng chẳng phải từ Thiên đường của Chúa… Tự lòng anh, chính nơi bản thể, chính trên giường bệnh, thơ nảy ra. Bão dông ba động thế gian với muôn nỗi khóc cười, thơ tìm anh mà đến. Vì lẽ đó, thơ Hưng gụi gần mà không đơn giản. Cũng vì lẽ đó mà thơ Hưng cũng chẳng mảy may cố làm dáng cách tân theo ba động cuộc đời. Hưng làm thơ tự nhiên như anh cần thở để sống, cần cố chống chọi với bạo bệnh hàng giờ để tồn tại phần xác, để mà thơ phần hồn. Anh đã từng tự dặn lòng: Ví dầu bại não liệt thân/ Này tôi, tĩnh lặng tâm thần vạn an/ Xanh cây vàng gỗ đen than/ Đỏ tươi trong lửa lửa tàn xám tro/ Sắc không không sắc diễn trò/ Mỉm cười xả hết phiền lo nhẹ lòng!(Tự dặn).

(more…)

Tháng Chín 5, 2016 at 3:14 sáng Bình luận về bài viết này

TẾ HANH VÀ NHỮNG NGÀY NGHỈ HỌC

tế hanh                  (Sấn khấu Đêm thơ nhạc nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh nhà thơ Tế Hanh)
“Những ngày nghỉ học” là thi phẩm đầu tay của nhà thơ Tế Hanh được chính thức công bố trên văn đàn vào năm 1938 – năm nhà thơ vừa tròn 17 tuổi (Tế Hanh sinh năm 1921). 17 tuổi đối với tuổi học trò bây giờ quả thật là còn khá ngây ngô, vậy mà mới 17 tuổi đầu, vào “Những ngày nghỉ học”, chàng trai Quảng Ngãi hiền lành ấy đã buồn bã lang thang ra sân ga để gửi nỗi buồn thương, u ẩn của lòng mình theo những chuyến tàu đi rồi đến, hòa nỗi đau riêng mình vào nỗi đau chung của những số phận người, của cả dân tộc trong những tháng năm u tối, bế tắt, đọa đày dưới chế độ phong kiến thuộc địa trước 1945. Có thể nói rằng, thơ ca lãng mạn 1930-1945 có rất nhiều nỗi buồn cá nhân, cô đơn, tuyệt vọng, lánh đời… nhưng chàng học trò trẻ tuổi Tế Hanh lại thổ lộ nỗi buồn của lòng mình theo một cách khác. Càng đọc thi phẩm, tôi càng ngộ ra rằng: nỗi buồn trong “Những ngày nghỉ học” của Tế Hanh là một “nỗi buồn lớn” không đơn thuần là nỗi buồn riêng phổ biến trong thơ ca của một thế hệ thơ thời ấy….

(more…)

Tháng Sáu 21, 2016 at 7:16 sáng Bình luận về bài viết này

Mai Bá Ấn với QUÀ XUÂN NĂM CŨ

       3-1415786354_660x0  

Mai Bá Ấn với QUÀ XUÂN NĂM CŨ

Vượt qua quãng đường đầy nắng gió, từ xứ HUẾ trở lại Quảng Nam, về náu mình nơi vùng mát nắng Thuận An Quế Sơn, tôi nghe tiếng ve gọi hè trở nên êm đềm hơn, mùi thơm phở sắn Thuận An lại đằm thắm, chân chất hơn… Chìm vào giấc mộng yên bình.

Trong cơn mơ có mùi hương cỏ mật
Và sớm ra tôi đã gặp hoa hồng

                   (Thơ  CHỬ VĂN LONG)

Hoa hồng với màu vàng nhạt hiện diện trước mắt tôi: LỤC BÁT LÀM LIỀU của Mai Bá Ấn – NXB Đà Nẵng – năm 2001.

Quen thân với anh Nguyễn Đăng Vũ, Mai Bá Ân, Nguyễn Kim Huy, Lê Anh Dũng, Nguyễn Thanh Sơn… từ những năm còn là sinh viên Ngữ văn Đại học Quy Nhơn thời kỳ bao cấp nhiều thiếu hụt, long đong, tôi hiểu khá rõ tố chất tài hoa, lãng mạn trong con – người – thơ Mai Bá Ân: dù thiếu thốn, cực nhọc, Mai Bá Ân vẫn cứ làm thơ đều đặn, vẫn cứ oằn mình trong câu chữ, trang viết.

Mở đầu Lục bát làm liều là lời nhận xét của báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, ra ngày 20/09/1998 và suy nghĩ của nhà thơ Thanh Thảo “Tôi đọc lục bát của Mai Bá Ấn, thấy cái nhịp lục bát này đã đổi nhiều, nhưng hơi thơ lục bát thì vẫn đầy, vẫn mềm, nghĩa là vẫn còn cái hồn riêng câu lục bát”. Nhận xét tinh tế của Thanh Thảo giúp tôi mạnh dạn đi vào khai phá sự lặng lẽ, ẩn chìm trong thơ của giảng viên trường Cao đẳng tài chính – kế toán Quảng Ngãi.

Không thể ngẫu nhiên khi tác giả chọn vài nhan đề với động từ ru: Lời mẹ ru, Nhà thơ ru con, Thầy giáo ru con. Lẽ giản đơn, hát ru là thể thơ quen thuộc của văn học dân gian Việt Nam. Lời ru của chính tác giả dần dần đưa người đọc vào thế giới mộng mơ, êm dịu.

(more…)

Tháng Bảy 27, 2015 at 7:42 sáng Bình luận về bài viết này

Thế giới thơ lục bát biến thể của Bùi Giáng

MBA2

(Tiến sĩ Văn học Mai Bá Ấn: bìa trái)

Thế giới thơ lục bát biến thể của Bùi Giáng

                                     Tiến sĩ Mai Bá Ấn

     Có thể nói, Bùi Giáng là thi sĩ tinh quái nhất của nền thơ ca Việt Nam từ cổ chí kim. Còn đối với sự nghiệp sáng tác của Bùi Giáng thì thể thơ Lục bát luôn được ông coi là bảo bối thi ca nước nhà, mà ông là người vừa nâng niu, trân trọng, vừa khổ công nâng tầm để thổi hơi thở mới vào thể thơ cổ điển ngọt ngào này.       Quan hệ giữa Bùi Giáng và Lục bát, có thể được minh chứng qua nhận định rất tài hoa và sâu sắc của nhà thơ Du Tử Lê: “Không phải những tác giả mới, không ném mình vào lục bát. Trái lại. Rất nhiều. Nhưng những tác giả này, không thấy đó làm một thách đố tử, sinh. Đa phần, họ chỉ thấy lục bát như một dòng sông tĩnh tự êm ả, một dải lụa ẩn dụ mềm mại chuỗi hư tự, hư ảnh… rất hư không… mà thôi. Rất ít tác giả, thấy lục bát là ngọn núi sừng sững chẻ đôi trời đất, chẻ đôi nhật, nguyệt, chẻ đôi sáng tối… May mắn thay, sau Nguyễn Du, Bùi Giáng là người cố tâm ở lại với lục bát. Là người rất rõ ràng nhất: Lục bát có thể chẻ đôi trời đất, chẻ đôi sáng tối, chẻ đôi nhật nguyệt. Bùi Giáng điên vì cõi thơ của ông. Trùng trùng lục bát. Vỡ bờ lục bát. Lục bát của ông làm ra đến triệu bài. Và, hàng triệu câu thơ đó, kết thành một “đoạn trường” thi ca, có thể xem như là tác phẩm đáng được lưu truyền thứ hai, sau “Đoạn Trường Tân Thanh”. Đọc thơ Bùi Giáng như thấy được một cuộc lưu vong đang rầm rộ trở về trong tiết tấu sa mù đầy ngẫu hứng. Những câu thơ linh hoạt dị thường. Liều lĩnh. Vượt xa trong thời gian vô tận” (Vài ý nghĩ về Lục bát – ChinhVn.net).  Những cái hay, cái đẹp, cái tinh, cái quái trong Lục bát Bùi Giáng đã được nhiều người bàn đến. Nay, tôi xin được đề cập đến một mảng Lục bát không kém phần quan trọng trong thơ Trung Niên Thi Sĩ, đó là: Lục bát biến thể.        Công bình mà nói, trong thơ hiện đại, Lục bát không chỉ biến thể ở Bùi Giáng mà ở rất nhiều nhà thơ, đặc biệt là các nhà thơ trẻ đương đại làm Lục bát. Tuy nhiên, sự biến thể hoặc phá thể của họ chỉ là thi thoảng, mà sự thi thoảng đó cũng chỉ là những biến thể không quá xa với câu Lục bát truyền thống (ví dụ như cách ngắt dòng để thay đổi nhịp thơ hoặc mở rộng số chữ trong câu,…). Còn với Bùi Giáng, Lục bát biến thể được ông tuôn ra một cách tự nhiên giống như khi ông làm Lục bát nguyên thể, gắn liền với biến động bão giông trong lòng ông và có một tần suất lặp đi lặp lại rất cao. Cơ hồ như, ngay lúc ấy, chính lúc ấy, chỉ có cách biến thể ấy mới nói hết

(more…)

Tháng Bảy 4, 2015 at 4:37 sáng Bình luận về bài viết này

Thanh Thảo và Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó”

thanh thao

Thanh Thảo và Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó”

Tạp chí Thơ số 6-2014 vừa công bố Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó” – Trường ca thứ 11 của nhà thơ Thanh Thảo. Đây là Trường ca được Thanh Thảo lấy cảm hứng nhân chuyến thăm cao nguyên đá Đồng Văn (Công viên địa chất toàn cầu vừa được UNESCO công nhận năm 2010), ghé thăm Nghĩa Trang Vị Xuyên (2012). Từ Cao nguyên đá trở về, đang còn lâng lâng với cảm giác do những mẫu hóa thạch của các loài có niên đại 400 đến 600 triệu năm về trước mang lại, bồi hồi với cảm giác khi đứng trước 1.698 ngôi mộ đồng đội ở Vị Xuyên; tác giả lại đón nhận dồn dập nhiều thông tin nóng hổi… Nào là chuyến lưu lạc 7.000 km của chàng trai H’ Mông Vừ Già Pó, nào là chuyện học sinh, giáo viên bản Sam Lang vượt suối đến trường bằng cách chui vào túi ni lông; nào là Trung Quốc cắm giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam… Tất cả đó đã được nhà thơ nối kết rồi bùng nổ thành một trường ca với 689 câu thơ và 2 đoạn tin được kết cấu như một bản giao hưởng hiện đại không phân chương mục, ngập tràn thi hứng. (more…)

Tháng Mười 7, 2014 at 6:48 sáng Bình luận về bài viết này

Bài đăng cũ hơn


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 441 960 Người

Chuyên mục