GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN NGẮN “BẾN THẤT TÌNH” CỦA MAI BÁ ẤN

Tháng Ba 10, 2016 at 2:29 sáng Để lại bình luận

mai ba an

GIỚI THIỆU TẬP TRUYỆN NGẮN “BẾN THẤT TÌNH” CỦA MAI BÁ ẤN 

           (Nguồn: Phongdiep.net) Nhà xuất bản Văn học vừa ấn hành tập truyện ngắn “Bến thất tình” gồm 13 truyện ngắn của tác giả Mai Bá Ấn. Nhận xét về tập truyện này, nhà văn Nguyễn Đình Chính đã viết: Mai Bá Ấn hiện đang sống ở Quảng Ngãi. Anh làm thơ, viết văn. Truyện của anh là những câu chuyện tình yêu dịu dàng như một bài thơ, như một kỉ niệm phảng phất khói sương của ảo giác. Trang Bichkhe.org đánh giá: Vừa làm thơ vừa viết tiểu luận phê bình nhưng thành công trong tiểu luận phê bình của Mai Bá Ấn chính là nhờ sự phát hiện của một hồn thơ. Hồn thơ ấy còn phả cả sang truyện ngắn của anh. “Phiên họp tuổi học trò”, “Bến thất tình”, “Bằng lăng tím”, “Hoa mai chùa cổ”, “Phía sau nước mắt”… là những câu chuyện đậm chất thơ, đọc xong có thoáng buồn lắng đọng như dư vị của một tứ thơ hay. Người Quảng Ngãi thì cảm nhận: Xin cảm ơn anh Mai Bá Ấn về những câu chuyện cảm động! Đọc truyện của anh, tôi thương cho thân phận những người con gái: Cô Gái Chung Tình, Chị Bảy Góa Chồng, rồi những Thắm, những Phượng, những Nguyệt, những Mây, những Hạnh… Nam mô A di đà Phật! Nếu những nhân vật đã chết là có thật, xin linh hồn Người được siêu thoát và mãi mãi an nghỉ! Và với những nhân vật sống xin ban cho họ quãng đời bình yên, hạnh phúc!

Tôi cũng thương và trân trọng những nhân vật con trai: Người-con-trai-nhà-sư có số phận hẩm hiu như Hiếu – Sư Giác Huyền, như Chàng Năm Trương Chi – Ông Năm Thất Tình, thầy Trình, rồi những Minh, những Bình, những Long…

Tôi chết lặng người vì kết cục của những câu chuyện buồn. Nam mô Quán Thế Âm bồ tát cứu khổ cứu nạn! Sao con người ta cứ bị luẩn quẩn vì nỗi khổ đau trong ngũ dục, lục thức mãi mà không sao thoát ra được? 

             Xin giới thiệu 1 trong 13 truyện của tập truyện ngắn này cùng bạn đọc xa gần.

                                            BẾN THẤT TÌNH

                                         (Gửi bến sông Trầu quê tôi)         

Tết này, tôi lại về quê… không còn thấy Ông – Năm – Thất – Tình trầm tư ngồi đọc Kiều bên chái quán lợp lá dừa của Chị – Bảy – Goá – Chồng chỗ bến sông đầu làng nữa. Với dân làng thì chuyện ông Năm còn ngồi đó hay đi đâu có lẽ cũng là chuyện bình thường. Song, với tôi, một kẻ xa quê, mỗi năm về một đôi lần thì hình ảnh cái dáng ngồi và giọng đọc Kiều của ông theo thời gian cứ in sâu dần trong tâm khảm. Càng xa lâu càng thấy nhớ, nhất là mỗi độ tết về.

Ông Năm đến làng này cũng bất ngờ và tương tự như khi ông rời làng ra đi vậy. Một cơn lốc biển đã cuốn phăng cả cái gia đình trên chiếc ghe bầu của cha mẹ ông về biển. Trời đất khiến xuôi sao ông lại trôi dạt đến bến sông này. Lúc đó, ông chỉ là một cậu bé lên mười… Và vì chiếc ghe bầu là quê hương duy nhất của tuổi thơ mình nên ông chẳng biết quê quán ở đâu mà tìm về lại, cho dù từ sau cái ngày cả gia đình bị cơn lốc chôn vùi trong sóng biển, ông đã không ít lần dọ hỏi. Ông sống với bến sông, với làng này cho tận mãi bây giờ. Mót lúa, làm thuê rồi dần dần ông cũng có được chiếc ghe con để dong câu thả cá. Đêm đêm, tiếng hát ly hương đượm nỗi buồn cô độc cùng nhịp gõ lưới chài của anh chàng đánh cá cứ thôi thúc hoài trái tim cô thôn nữ con một nhà giàu có trong làng. Và cái gì đến rồi cũng đến. Họ yêu nhau và thề non hẹn biển sẽ cưới nhau vào mùa xuân đến. Nhưng gia đình cô nhất quyết không cho cô lấy ông – một thằng dân ngụ cư cù bất cù bơ không cửa nhà, cha mẹ.

Sắp hết năm, lại phải đi dự bao lễ cưới của các bạn cùng làng, cô tủi phận và… đã trầm mình dưới bến sông này đúng chiều tối ngày Ba mươi tết. Vì giận con nên cha mẹ cô gái không thèm tế lễ. Dân làng an táng cô bên gò đất cạnh bến sông. Nấm mộ ấy, qua thời gian, giờ vẫn còn nguyên đấy. Đúng là “mộ người chưa có chồng”. Tái tê, buồn thảm đến đìu hiu. Dân làng tôi gọi đó là nấm mộ của Cô – Gái – Chung – Tình. Và nghe đâu, mãi đến sau này, gia đình cô cũng nhất quyết không lập bàn thờ cho cô. Chỉ có ông Năm thắp nhang cúng cô hàng năm mà cũng là tự cúng với bàn thờ lòng mình vào những chiều Ba mươi tết. Cứ như là chuyện Trương Chi hiện đại. Chỉ có cái kết thúc của câu chuyện là khác: Cô – Gái – Chung – Tình trầm mình, Chàng – Năm – Trương – Chi thì vẫn sống. Sống trên chiếc ghe con và thẫn thờ bên bến sông mỗi sớm mỗi chiều để nghe tuổi xuân tàn dần trong ngút ngàn thương nhớ. Ngày Cô – Gái – Chung – Tình mới mất, anh không khóc mà chỉ lặng im như tượng. Người làng chia nhau lặn kiếm khắp bến sông từ chiều đến tối, vẫn chẳng ai tìm ra được chỗ cô nằm. Dường như linh tính của người sống bên cạnh sông nước mách bảo, Chị – Bảy – Goá – Chồng phán như bề trên nhập xác:

– Chỉ có Chàng – Năm – Trương – Chi mới có thể tìm được xác cô.

Ai cũng thông cảm cho nỗi đớn đau vô hạn của chàng, nhưng đến nước này thì  không thể làm tượng trên bến sông được nữa, anh nhảy ùm xuống nước… Và y như rằng, chỉ cần lặn một hơi, Năm – Trương – Chi đã tìm được chỗ nằm của Cô – Gái – Chung – Tình. Cứ như là cô đang chờ anh để được anh ôm trong tay lần cuối. Anh bế xác cô lội về bến. Những bước đi chậm rãi, nặng nề như bị nỗi đau đè nặng. Mọi người ai cũng kinh hoàng, vì rõ ràng chỗ chị nằm, từ chiều đến giờ đã có bao người mò kiếm. Thế mà… chẳng ai tìm thấy. Chao ôi ! Tình yêu chân thật mới thiêng liêng cao cả làm sao!

Đêm Ba mươi năm ấy, dường như cả làng chẳng ai ngủ cả. Họ tề tựu bên bến sông để lo an táng cho người xấu số sau khi gia đình cô mặc nhiên vô thừa nhận “đứa con gái hư” như họ từng nghĩ thế. Suốt mấy tháng liền sau đó, đêm nào, Chàng – Năm – Trương – Chi cũng rời thuyền ghé chái quán Chị – Bảy – Goá – Chồng mua lọn nhang thắp lên và ngồi mãi bên mộ người tình nhỏ to tâm sự. Chàng – Năm – Trương – Chi trở thành Ông – Năm – Thất – Tình từ dạo ấy…

Ngày ấy, mỗi lần về quê, khi thấy dáng tôi xuất hiện ở đầu cầu bên kia sông là ông Năm đứng lên cười chào, chờ đợi, và tôi thường biếu ông mấy nghìn để ông uống rượu. Thường thì chiều tối Ba mươi tết hàng năm, khi mọi nhà lo sum họp chuẩn bị đón xuân, ông Năm ghé mộ người tình thắp nén nhang lâm râm khấn niệm rồi ngồi uống rượu bên bến sông chờ giao thừa đến. Khi tiếng trống giao thừa từ ngôi chùa cổ ở cuối làng vọng đến bến sông, ông Năm lặng lẽ rời bến sông đi chúc tết mọi nhà trong xóm. Nhà đầu tiên ông đến thường là chái quán lá dừa của Chị – Bảy – Goá – Chồng. Mà thực ra, chuyện đi chúc tết mọi nhà  như thế này chỉ xuất hiện ở ông từ ngày Cô – Gái – Chung – Tình từ bỏ ông để trầm mình cùng khối tình chung bên bến sông dạo ấy. Còn trước đó, do mặc cảm của một gả dân ngụ cư không người thân kẻ thích, vào dịp tết, Chàng – Năm – Trương – Chi chỉ lặng lẽ ngồi bên bến sông trên chiếc thuyền con của mình uống rượu và cất tiếng hát ngân nga trong nỗi buồn thân phận. Chỉ có Chị – Bảy – Goá – Chồng là hiểu lòng chàng trai mồ côi, thường mời chàng rời thuyền lên chái quán lá dừa của mình để chung ly rượu tết. Mấy năm đầu, những người có tục kiêng kỵ, không nói ra, nhưng họ rất sợ ông Năm xông đất. Thậm chí có người sợ xui rủi không ngần ngại khép cổng đuổi khéo ông đi. Nhưng riết rồi cũng quen. Mà cũng chẳng có chuyện gì xui rủi xảy ra trong năm đối với những nhà ông đến so với những nhà cố tình xua đuổi ông, nên rồi… giờ giao thừa, nhà nào cũng đợi ông Năm xông đất để nghe ông chúc Kiều và hát mấy câu tuồng cho vui nhà vui cửa …

Chiều Ba mươi tết năm nay, khi bước qua cầu, như thường lệ, tôi đã chuẩn bị mấy nghìn tiền lẻ để biếu ông Năm. Nhưng từ đầu cầu bên này ngóng mãi về bên kia, tôi vẫn không thấy ông Năm ra đón với nụ cười hiền hậu. Như đọc được nỗi ngạc nhiên của tôi, Chị – Bảy – Goá – Chồng lễ phép mời tôi vào nhà rồi chỉ lên bàn thờ và bảo:

– Ông Năm vì cứu con của chị và các cháu làng mình trong mùa lũ vừa qua nên…

Tôi lặng người khi nghe chị Bảy báo tin, lặng lẽ đến bên bàn thờ thắp nhang cho ông Năm. Và như được ông Năm mách bảo, tôi bỗng nhớ ra, liền bảo Chị – Bảy – Goá – Chồng: 

– Chị bán cho em mấy nghìn tiền rượu để em cúng ông Năm. Thuở ông Năm còn sống, em thường biếu tiền ông uống rượu mỗi lúc về quê.

Chuyện này thì chị Bảy cũng không lạ gì vì mỗi lần tôi biếu tiền xong, ông Năm lại ghé vào chái quán chị để uống rượu và kể về xuất xứ những đồng tiền lẻ ấy. Khi đặt ly rượu lên bàn thờ ông Năm, tôi chợt nhận ra trên bàn thờ có tới hai bài vị. Hình như hiểu được thắc mắc của tôi, chị Bảy ngậm ngùi:

– Ông Năm là ân nhân cứu con chị và các cháu trong làng nên chị xin phép ông được thờ phượng ở đây để hồn ông có nơi nương tựa. Vả lại… cái bến sông này, cái chái quán lá dừa đơn sơ này đã gắn chặt với cuộc đời ông. Xác ông Năm dù dân làng không tìm được nhưng có lẽ hồn ông còn phảng phất mãi nơi này. Còn chuyện tình buồn của Chàng – Năm – Trương – Chi và Cô – Gái – Chung – Tình, là người làng, chắc em cũng biết. Chị ấy cũng chẳng được gia đình thờ cúng. Ngày ông Năm qua đời, chị xuống chiếc thuyền của ông thì bắt gặp bàn thờ và bài vị thờ người con gái ấy ngay trên đầu khoang nằm của ông Năm. Chị thắp nhang xin phép ông Năm được đưa cô về thờ chung cùng ông trong chái quán để họ mãi là đôi tình nhân sống chết có nhau. Kiếp dương trần không đặng thì mong đặng ở kiếp sau. Chị nghĩ và tin là như thế!

Câu chuyện của chị Bảy khiến buổi chiều cuối năm về thăm quê của tôi càng nhiều cảm xúc. Chị Bảy tiếp tục dòng hồi tưởng:

– Cơn lũ năm nay cũng dữ dội chẳng khác gì lũ năm 99. Chiếc cầu bắc qua làng năm ấy đang làm mới phải đi bằng cầu tạm. Dòng sông đục ngầu nước. Nước cuốn phăng một nhịp cầu tạm… Lúc ấy, chị đang thu xếp đồ đạc trong nhà. Số học sinh làng mình đi học ở thị trấn về muộn đứng bên kia sông gào réo ông Năm vang trời. Ghe ông Năm lúc đó chưa về kịp bến. Thằng con trai chị liều lĩnh chèo xuồng qua sông. Cả bọn, sáu đứa tranh nhau lên xuồng. Xuồng thì nhỏ mà lũ về quá mạnh. Giá như có ông Năm lúc ấy thì mọi chuyện đã khác… Nhưng rồi, như một linh tính của con người đã từng gắn chặt với bến sông này, ông Năm đã về kịp. Nhưng khi ghe ông vừa đến bến, ông đã thấy chiếc xuồng chở bọn nhỏ giữa sông đang chao đảo. Không thể chèo ra giữa dòng, ông Năm vội vã cột ghe mình vào gốc nính rồi phóng xuống sông kéo chiếc ghe lao ra giữa con nước dữ. Vừa đến nơi thì chiếc xuồng con đã chìm nghĩm, các cháu đang lặn ngụp giữa dòng. Ông Năm kéo từng cháu bỏ lên ghe mình. Và cứ thế, khi sáu đứa nhỏ và cả thằng con chị được vớt lên cũng là lúc ông Năm kiệt sức. Chị đã kêu làng inh ỏi. Bà con đến thì chỉ kịp lần theo sợi dây neo để bơi ra dìu chiếc ghe chở bảy đứa nhỏ vào bờ. Còn ông Năm đã bị cuốn theo dòng nước. Cả làng thương phục ông Năm, đổ xô nhau đi tìm khắp các triền sông, nhưng ba ngày sau cơn lũ mới tạm ngưng nên hỏi thăm hoài người dưới miệt xuôi vẫn chẳng thấy xác ông Năm đâu cả…

– Đáng kính thay cho một con người…

Tôi chợt buột miệng và tâm sự cùng chị Bảy như tự nhủ với chính mình:

– Ông Năm đến với làng mình cũng bất ngờ và tương tự như khi rời bỏ làng ra đi vậy! Có lẽ xác ông Năm đã theo cha mẹ mình xuôi về với biển. Nhưng, chị nói đúng, hồn ông Năm, con người ông Năm thì mãi gắn chặt với làng ta và bến sông này. Chẳng ai bây giờ còn nghĩ rằng ông Năm là dân ngụ cư nữa cả. Ông chính là một mảnh của hồn làng. Ông đến với làng, sống với làng, yêu ở làng, vui buồn cùng làng và hi sinh cứu các cháu trong làng… Tất cả đều vô tư như chính cuộc đời ông vậy. Đáng kính thay cho một con người.

Tôi lặng lẽ thắp thêm tuần nhang nữa trên bàn thờ hai người tình chung thuỷ ấy. Từ Tết này, với người dân làng tôi, hình ảnh Ông – Năm – Thất – Tình trầm tư bên vách quán lợp lá dừa của Chị – Bảy – Goá – Chồng không còn nữa. Nhưng có lẽ từ đây, hình ảnh ông Năm dũng cảm lao ra giữa dòng nước xiết để cứu bảy em nhỏ học sinh sẽ mãi in trong tâm trí người làng.

Bến sông quê tôi từ đó được gọi là Bến – Thất – Tình. Gọi, để nhớ ghi công đức ông Năm và cũng để dân làng mãi nhớ về một chuyện tình đẹp và buồn trên bến sông ngày cũ. Đối với tôi, một kẻ ly hương, hồn quê vẫn man mác trên mỗi bước đường, khi nghĩ về quê là nhớ đến Bến – Thất – Tình, nơi có chiếc bàn thờ hai bài vị đơn sơ trong chái quán lá dừa cạnh bến sông quê…

                                    

Entry filed under: 2- GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI. Tags: .

Lễ kỷ niệm 100 năm sinh nhà thơ Yến Lan Mạc Trường Thiên từ những nỗi niềm riêng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 301,078 Người

Danh mục


%d bloggers like this: