CUỘC CHIẾN QUA RỒI

Tháng Mười Hai 16, 2015 at 9:01 sáng Để lại bình luận

6-3673-1406270984

Truyện ngắn:           CUỘC CHIẾN QUA RỒI

                                                                        Hiền Văn

 

Hàng năm, cứ gần đến ngày thành lập quân đội là ông Hoạt không thể nào ngủ được. Năm nay cũng thế. Ánh trăng trung tuần xiên qua cửa sổ sáng lấp lóa dưới làn mưa bụi càng làm cho ông thao thức. Bốn ngày nữa, đứa con gái đầu của ông lấy chồng, nhưng đó không phải là lý do để ông trằn trọc. Ông đã lo đâu vào đấy cả rồi.

Cơ ngơi ông Hoạt đến nay đã hàng tỉ đồng. Hai con ông đều ngoan. Cô con gái sắp có chồng thì dạy văn ở trường cấp ba gần nhà, còn cậu con trai lại đang là sinh viên bách khoa thành phố. Bà Thành vợ ông đảm đang, hiền thục. Từ ngày thôi làm cán bộ hội phụ nữ huyện, bà về quán xuyến việc nhà, việc trang trại giúp ông. Điều ấy đã nói lên ông Hoạt là người chỉnh chu, giỏi tính định công việc. Ông còn là chủ tịch hội cựu chiến binh, chủ tịch hội sinh vật cảnh, phó chủ tịch hội nông dân, cùng hàng loạt chức danh khác. Ở thị trấn cao nguyên này, ông Hoạt khá thành đạt. Gia đình ông luôn được mọi người kính trọng; chẳng những thế, ông còn được tiếng là người chung thủy. Chung thủy với vợ một cách lạ lùng. Những lần đồng đội gặp nhau rủ rê ăn nhậu, mặc cho bạn bè và các cô gái ngả ngớn, ôm ấp, sờ soạng, ông vẫn ngồi ngay ngắn, hai tay đặt lên đùi. Những lời nói đùa của đồng đội, không biết đi bằng đường nào mà ông “chết” với danh Hoạt Động Thành. Các bà mang ông ra làm gương để răn đe chồng mình.

 Ấy mà ông Hoạt không ngủ được!

          Ông Hoạt se sẽ ngồi dậy. Trời khuya lắm. Ông mò trong bóng tối tìm gói thuốc lá trên bàn rồi bước ra hiên. Có tiếng trở mình kèm hơi thở dài bị nén lại bên giường vợ ông. Ông biết bà Thành cũng không ngủ được. Ừ, bà Thành không ngủ! Dẫu là người lành tính, nể chồng, nhưng lẽ ra, vài hôm nữa con gái có chồng, ông cũng phải ngó nghĩ đến gia đình chứ! Ông không nói ra nhưng bà Thành biết ông muốn đi. Ông muốn đến Quảng Ngãi. Bà tức lắm. Với mọi người, ông là Hoạt cả đời chỉ “động” đến Thành. Còn bà, hơn 25 năm chung sống, bà hiểu rằng mình chỉ chiếm một phần trái tim ông thôi. Ông không chung thủy. Ông yêu thương người khác. Mà người khác là ai, thì bà Thành chịu. Bà dò hỏi những người quen, những đồng đội cũ của ông. Bà cũng đã cất công ra Quảng Ngãi mấy lần. Người để bà ghen vẫn không tìm được. Ai cũng bảo trước khi đến với bà, ông Hoạt chưa có người yêu. Bà Thành không tin.

          Từ những năm đầu chung sống, bà biết rằng mình không phải là người đầu tiên của ông. Bà nhớ như in năm ấy, cũng vào quãng thời gian này, bà bụng mang dạ chửa vượt hàng trăm cây số lên tận Đức Cơ, nơi đơn vị ông đóng quân để thăm ông. Người phó chỉ huy cho biết ông đã nghỉ phép mấy hôm rồi. Bà tức tốc tìm xe ra về trong đêm, mặc cho những người lính đơn vị ông cầm giữ. Tàu xe lúc ấy trăm bề khó khăn, nhọc nhằn. Đến nhà, cửa vẫn đóng im ỉm. Bà lo âu vô cùng. Rồi ông cũng về. Không biết bà đã tìm nên ông bảo rằng ông đi công tác ngoài quân khu, tranh thủ ghé thăm nhà một ngày. Bà gượng làm vui, coi như không có chuyện gì. Lòng bà thầm mong ông Hoạt sẽ nói ra điều ông giấu. Nhưng không, ông Hoạt vẫn cố làm ra vẻ bình thường. Nhìn sâu vào đôi mắt ông, bà Thành biết sau chuyến đi ông thất vọng lắm. Mà ông đi đâu để phải thất vọng? Thay  vì dùng những ngày phép ít ỏi về chăm  người vợ trẻ, sắp sinh con đầu lòng, ông lại đến đó? Khi đàn ông nói dối vợ thì chỉ có một lý do thôi! Bà nghĩ vậy.

          Mấy ngày sau, ông Hoạt viết thư về xin lỗi vợ. Ông bảo là phải ra Quảng Ngãi thăm người bạn ốm nặng nhưng không muốn cho bà Thành hay để bà khỏi lo. “Hừ! Lại nói dối”. Bà thầm nghĩ.

          Ngần ấy năm sống bên nhau, bà hiểu ông đến từng chân tơ kẽ tóc. Càng hiểu bà càng thương yêu, kính trọng ông. Bà tự hào đã có người chồng như ông. Nhưng trái tim ông, thì đến nay với bà vẫn là điều bí mật. Nhiều đêm bà khóc thầm, oán giận. Bà ghen. Nhưng ghen với ai đây hỡi trời? Chả lẽ bà phải tạo ra một bóng hình sương khói để gọi là tình địch? Nhiều lần bà nói gần, nói xa nhưng ông Hoạt vẫn làm ngơ.

          Những năm sau này, phần lớn tuổi, phần vết thương tái phát ông ít đi Quảng Ngãi hơn. Dẫu không đi thì bà Thành cũng lắm nỗi muộn phiền. Cứ gần đến ngày thành lập quân đội là ông bần thần, lơ đãng như người mất hồn, làm việc nọ xọ việc kia, hỏi việc này trả lời sang việc khác. Ông lừ đừ. Đêm đêm ông lang thang ngoài vườn như người mộng du. Sáng ra khuôn mặt ông hóp lại, mắt trũng sâu. Bà đau lòng lắm.

          Nằm ở giường bên, dầu ông không cựa mình, bà vẫn biết ông đang thức. Lúc ông rón rén ra hiên bà cũng hay. “Mưa gió lạnh thế này, không khéo đến ngày gả con gái lại lăn ra ốm mất”. Bà Thành chặc lưỡi. Bỗng bà nhớ khuôn mặt rắn rỏi của ông trên truyền hình trung ương hôm kia. “Người đâu mà lạ ! Ăn cơm nhà…”. Bà chợt mỉm cười trong bóng tối. Bà hình dung lại cảnh những người nuôi ba ba trong thị trấn chạy nhốn nháo vì chúng bị một loài ký sinh như bò chét đốt vào kẽ mu. Mà hễ con nào chảy máu thì số ba ba còn lại xông vào cắn nát thây như loài cá mập. Phương pháp chống đơn giản vô cùng; miễn ba ba chịu nổi lên tắm nắng để vết đốt khô máu, lành da. Vậy mà chúng cam chịu chết chứ nhất định không ngoi lên tắm nắng. Mặc cho người ta xục khí, bơm ô xy, bỏ thuốc kháng sinh, thay nước…, số ba ba bị chết vẫn ngày một tăng. Mà chúng là loài nuôi nhiều vốn liếng. Nhà ít nhất cũng đầu tư vài trăm triệu, nhà nhiều lên đến hàng tỉ đồng. Các kỹ sư sở thủy sản bất lực, họ chạy tìm thầy tận các trường đại học Nha Trang, Cần Thơ … nhưng tất cả đều chịu thua. Hồ ba ba của bà Thành cũng bị chết vài con. Và cũng vài con ấy chết thôi. Không biết học từ sách vở hay kinh nghiệm nào mà ông Hoạt đã xử lý chuyện này một cách không tốn kém. Đó là phương pháp muối một phần nghìn. Ông phổ biến cho mọi người. Thế là các nhà báo, nhà đài đến đưa tin; các chủ trang trại đến cảm ơn nguời đã cứu cho cơ nghiệp nhà mình. Bà nấu nước, pha trà suốt ngày mà lòng vui khôn tả. Nghĩ đến đây bà Thành ngồi dậy bật đèn, xuống bếp đặt ấm nước.

 

* * *

          Trời đã tạnh mưa. Trăng sắp tàn. Chút ánh sáng yếu ớt cố bám víu vào lá cây, chùm hoa cà phê nhuộm màu đục ngà. Ông Hoạt kéo cao cổ áo. Cả ngày hôm nay, ông có cảm giác ánh mắt của vợ như hình sin cứ đeo bám ông. Hình như không phải chỉ có ngày hôm nay. Ông hiểu đôi mắt ấy muốn hỏi gì.

Ông vẫn nhớ như in lần đầu gặp bà Thành. Khi ấy bà là cô Như Thành làm ở huyện đoàn phụ trách thanh niên. Đơn vị ông kết nghĩa với huyện đoàn. Là đại đội phó chính trị, ông nghiễm nhiên phụ trách đơn vị trong những lần phối hợp lao động giúp dân hoặc sinh hoạt văn nghệ. Như Thành có vóc người dong dỏng, làn da như trứng gà bóc, đàn giỏi, hát hay. Đặc biệt đôi mắt bồ câu của cô có màu xám tro, hai lòng đen trắng phân minh, nằm dưới hàng lông mày xanh đen cong cong thanh mảnh.

          – Mắt Thành như mắt “ người ấy”! Ông nhủ thầm khi thoáng gặp buổi đầu. Trái tim ông thêm một lần đập rộn rã. Nhưng ông không cố tìm cơ hội gặp cô. Phần mặc cảm cái nghèo của người lính, phần thấy có nhiều người đeo đuổi cô, và nhất là ông vẫn chưa quên được – cô gái mà số phận dành cho ông dẫu chỉ một lần gặp gỡ.

          Biết bao người đeo đuổi, cô Thành chỉ mến mình ông – người dửng dưng duy nhất khi đứng trước mặt cô.

          Mãi sau này,Thành mới có dịp đưa ông về giới thiệu cùng gia đình. Hôm đó chiều muộn, xe đi tuyến đường ngang Bình Định – Tuy Phước không còn, hai người đành đi bộ. Lúc ngồi nghỉ dưới cây xoài bộng, ông hỏi Thành :

          – Sao em lại yêu anh?

          – Tồ ạ! Em yêu anh từ cái nhìn đầu tiên. Người đâu mà lạ! Mới gặp đã nhìn sửng vào mắt người ta, làm như từng quen biết, nhưng sau ấy lơ luôn. Thành cười trong trẻo, dư âm vang trên đồng lúa chạng vạng chiều.

          – Còn gì nữa? Ông Hoạt hỏi tiếp.

          – Người đâu mà lạ! Anh làm bộ đội mà điếc không sợ súng. Nhạc thì không biết mà lúc nào cũng xung phong “cầm càn” cho người khác hát. Nhịp đi nhưng hai tay cứ huơ loạn xạ như múa gươm. Anh biết hôn, ngồi ở cuối phòng, tụi em ôm bụng cười muốn tắt thở luôn.

          -Thì, thì … Hoạt khống chế.

          – Người đâu mà lạ! Bắt giọng thì lúc cao lúc thấp; để người hát khi thì ba bè, khi thì cả trăm con người cứ ò ò trong họng không ra tiếng và lâu lâu lại rú lên. Thành nhìn ông cười ngặt nghẽo.

          – Này, người đâu mà lạ, chuyên nói xấu anh. Ai lại yêu người ta vì những khiếm khuyết …

          – Ơ! Anh chọc quê em. Người đâu mà lạ! Người đâu mà lạ… Kèm theo mỗi câu là cái nguýt và tiếng đấm thùm thụp của Thành vào vai ông.

          Thoáng chốc đã mấy chục năm rồi. Giờ đây vợ ông vẫn còn giữ được vẻ xuân sắc một thời. Khuôn mặt chớm tuổi 50 của bà vẫn thanh tú,mịn màng. Ông nhớ đến giải cầu lông đôi nữ gia đình cấp tỉnh vừa qua. Hai mẹ con sắp ra sân mà trọng tài vẫn quả quyết là chị em nên không cho thi đấu. May mà bà có mang theo chứng minh thư. Ông bỗng bật cười. Rồi trầm ngâm.

Ông yêu bà nhưng lòng luôn ray rứt. Ngày tháng vẫn không làm cho ông quên chuyện cũ. Trái lại, kỉ niệm mối tình đầu của thời trai trẻ mỗi ngày càng cựa mình trong trái tim ông nhiều hơn. Nhất là mấy hôm nay, qua một người hái cà phê thuê cho ông, ông tìm được địa chỉ  bao năm rồi mong mỏi. Hình bóng vợ ông và cô ấy cứ nhập nhòe, chồng lên nhau. Ông xấu hổ với bà Thành khi ý tưởng phải về Quảng Ngãi lớn dần trong đầu ông, choán cả những suy nghĩ.

          Điếu thuốc trên môi ông lập loè, lập loè như một hoài niệm…

                                                * * * 

          Mùa đông năm 1973 ấy trời mưa thoi thóp. Từng cơn gió bấc quất vào da thịt lạnh cóng. Đơn vị pháo binh của Hoạt ém quân ở gò Đu. Mấy lần nã pháo xuống tòa hành chánh tỉnh và tiểu khu quân ngụy đều trật mục tiêu. Dân gởi lời lên trách cứ, còn chỉ huy tiểu đoàn thì phải làm kiểm điểm. Sau khi tính toán, đơn vị cử Hoạt – tiểu đội trưởng trinh sát, bằng mọi cách phải  lên được cao điểm núi Nhàn để quan sát trắc địa. Cái khó ở đây là núi Nhàn lại nằm sát núi Tròn- một căn cứ quan trọng của ngụy, khống chế cả mấy xã miền Tây. Dưới chân núi Tròn  còn có khu dồn với đủ các loại mìn cài. Trên đường đi, phải băng qua mấy cánh đồng ủi trắng ở Minh Thành, Tam Hân, Đồng Bé…, mà hỏa châu của địch ở núi Tròn và hòn Dầu bắn chiếu sáng liên tục. Trên núi Tròn địch quan sát thì đêm đen cũng rõ như ngày. Ban tác chiến không hề giấu Hoạt những tình huống nguy hiểm có thể anh phải hy sinh. Để hạn chế mất mát tối đa, lần công tác này Hoạt đi một mình và chỉ mang theo khí tài đo đạc thật cần thiết. Điều thuận lợi nhất là địa phương sẽ cử một người du kích dẫn đường giàu kinh nghiệm, biết rõ địa bàn, nắm vững quy luật hoạt động của địch cũng như đường đi, cách tiếp cận núi Nhàn.

          Và, thế là Dung đến. Lúc thấy cô gái cởi bỏ áo mưa, gạt bùn dưới đôi dép cao su, tuổi chừng mười tám đôi mươi xăm xăm bước vào tiểu đoàn bộ, Hoạt chỉ khẽ gật đầu chào. Mắt anh vẫn đăm đăm nhìn xuống triền đồi đợi người dẫn đường. Đến lúc tiểu đoàn trưởng gọi Hoạt vào giới thiệu anh mới tá hỏa. Cứ ngỡ một anh du kích cao to nào đó, ai ngờ lại nhằm một cô bé da trắng, tóc dài như tiểu thư. Hoạt nghi ngờ, đăm đăm ngó Dung như thầm đánh giá. Mà thầm gì nữa, nhìn vẻ thất vọng hiện rõ trên gương mặt Hoạt là Dung biết ngay anh xem thường mình. Dung mặc kệ anh.

Đêm đã xuống. Trước lúc lên đường, Dung kiểm tra lại lương khô, thực phẩm, nước uống, tăng võng… xong chia ra cho anh. Cô dặn Hoạt:

          – Anh là lính pháo binh, tác chiến địa hình chưa nhiều kinh nghiệm nên phải nghe theo em. Về cự ly, anh phải đi sát vào em, chân em đặt chỗ nào anh đặt xuống chỗ ấy. Cô chìa miếng gỗ mục ra nói tiếp:

          – Em sẽ kẹp miếng gỗ này lên tóc, anh cứ nhìn theo đốm sáng mà đi. Còn miếng này em cầm ở tay. Thấy em phất một cái, anh nằm tại chỗ đợi, phất hai cái anh phải nhanh chóng lùi lại, sau ấy, chúng ta tìm nhau bằng tiếng cú kêu. Nếu có chuyện gì xảy ra, một mình em đánh địch, còn anh tìm cách về lại đơn vị để đi chuyến khác.

          Thấy anh hời hợt khoác ba lô có ý bất mãn, cô yêu cầu anh chạy tại chỗ. Thôi thì đủ thứ âm thanh lổn cổn. Cô buộc chặt lại ba lô giúp anh, mỉm cười dịu dàng nói :

          – Anh đừng giận! Đây là chuyện sống chết của hai chúng ta. Em có trách nhiệm bảo vệ cho anh an toàn. Các chú yêu cầu như thế!

          Anh bật cười trước một lô chữ nghĩạ cô dùng và cái cách cô đứng nghiêm trước mặt anh như người chỉ huy đang truyền đạt khẩu lệnh.

          Ăn tối xong Dung bảo:

          – Thôi, ta đi. Anh nhớ lời em dặn nhé!

          Trời tối đen. Mưa đã ngừng rớt hột. Anh lầm lũi nhắm bắp chân trắng nhờ của cô mà bước. Chỉ mới một đoạn đường thôi, chưa vượt khỏi lộ Bảy, anh đã biết mình lầm vì xem thường cô.

          Khi tiến, khi lùi, khi băng nhanh qua đồng trống, lúc nương theo những bụi trúc mọc dọc theo bờ mương mà lội, nhất nhất Hoạt đều làm theo Dung. Anh quen chung quanh có đồng đội rồi. Anh quen đánh giặc tầm xa, giờ đây ngước lên là đã thấy mấy ngọn đèn pha của địch ở núi Tròn quét qua, quét lại. Ánh hỏa châu như con mắt địch cứ lập lòe trên đầu. Anh thấy mình nhỏ nhoi. Anh lo sợ.

          Đến chân núi Nhàn. Đang bò phía sau Dung, Hoạt thấy vệt sáng trên tay cô vung lên nên nằm lại đợi. Lát sau, hơi thở nóng hổi của Dung áp vào má anh kèm tiếng thì thào:

          – Có mìn. Nằm yên nhé!

          Cô dùng cọng cây dò tìm sợi cước địch cài giăng ngang, rồi lấy ghim mang theo sẵn khóa chốt an toàn. Xong mỗi đoạn đường cô quay lại đón anh và cài lại mìn như cũ để sáng ra địch khỏi phát hiện. Cứ thế Dung đưa anh lên đỉnh núi.

          Trên núi Nhàn có nhiều tảng đá to như căn nhà chồng lên nhau tạo nên các hang động gấp khúc. Cô lần trong bóng tối một cách quen thuộc tìm vị trí ẩn náu mà cô chọn sẵn. Cô lại thì thào vào tai anh, những sợi tóc cọ vào má, vào cổ anh nhồn nhột:

          – Nơi đây chỉ cách núi tròn 500 mét nên tuyệt đối không được gây ra tiếng động. Còn an toàn thì chúng ta có thể yên tâm. Gần thế này địch sẽ không nghi ngờ. Tối mai và mốt em sẽ cảnh giới cho anh làm việc, bây giờ cũng gần sáng rồi, anh tranh thủ ngủ đi.

          Lòng hang bé tí. Hoạt nằm không dám cựa mình. Chỉ khẽ xoay vai là  chạm vào cô. Lát sau hơi thở Dung đã đều đặn. Lần đầu tiên Hoạt nằm gần một cô gái như thế nên rất hồi hộp. Nhớ lại chỉ vài giờ trước mà anh xấu hổ với mình. Lúc mấy loạt đạn địch bắn vu vơ lại găm xuống nước bên cạnh anh, tưởng địch phát hiện, anh vùng lên định bắn trả. May mà cô ấy kịp kéo chân ra hiệu. Khi băng qua bờ ruộng, loài chim đêm nào đó kêu quàng quạc, đập cánh phành phạch, hốt hoảng bay lên cũng làm cho anh đứng tim, suýt kêu thành tiếng. Và khi cô mò trong bóng tối gỡ mìn… Cái sống và cái chết mỏng như tờ giấy! Vậy mà giờ đây cô lại ngủ ngon lành. Anh nằm thao thức mãi.

          Ánh sáng ngày mới đã rọi lờ mờ vào hang. Văng vẳng tiếng kèn báo thức, tiếng lính í ới gọi nhau trên núi Tròn dội xuống. Dung đặt tay lên môi nhắc anh im lặng. Bây giờ anh mới có dịp nhìn kỹ mặt cô. Đôi mắt Dung đen sâu thăm thẳm như biết nói. Khóe miệng cô hơi vểnh lên có một nốt ruồi nhỏ bên trái, vành môi phủ lớp lông tơ vàng vàng. Hoạt nghĩ đến sau này, lỡ lớp lông ấy biến thành màu đen, thì chắc là… Dung lại suỵt suỵt xua tay ra hiệu cho anh im lặng.

          Trời vẫn lạnh lắm. Thỉnh thoảng những cơn gió bấc như cố ý trêu ngươi, luồn lách qua từng kẽ đá, xuống tận chỗ hai người. Vừa thì thầm chuyện quê, chuyện nhà, họ vừa vô tình xích lại gần nhau cho đỡ rét… Hơi thở cô dồn dập, mặt đỏ hồng lên. Vùng bụng dưới anh đau nhức, thèm thuồng. Hoạt nghiêng người định choàng tay qua khuôn ngực ấm hưng hức của cô. Cô nhìn anh van vỉ, mắt ngân ngấn nước:

          – Đừng… đừng… anh…

          Hoạt thở hắt ra, rụt tay lại. Anh ngửa mặt ngó lên trần đá.

Đêm ấy Dung giúp anh trắc địa. Không ngờ tảng đá trên cùng tương đối bằng phẳng, lại có cây che khuất nên thuận tiện cho hai người ẩn núp. Anh dán mắt vào cái quầng sáng phía đông bắc, nơi có cột ăng-ten của đài phát thanh ngụy, cứ 3 phút 28 giây là lóe đỏ một lần để đo đạc. Từ bình độ này qua đèn trên chóp ăng-ten, anh đã hiểu vì sao đơn vị pháo binh của mình cứ bắn trật mục tiêu. Anh lấy bút chì nguệch ngoạc vài số liệu. Có Dung ngồi phía sau canh gác là anh yên tâm. Mặc cho tiếng đại bác của địch từ núi Tròn đề-ba chát chúa, mặc cho tiếng súng tiểu liên ở các lô cốt ven sườn núi bắn ra từng tràng, anh vẫn bình tĩnh kiểm tra đi, kiểm tra lại toạ độ nhiều lần.

          Tờ mờ sáng ngày thứ ba, lúc hai người chuẩn bị rút xuống chỗ trú thì bất ngờ có tiếng máy bay trực thăng ầm ầm phía Diên Niên, Thọ Lộc, tiếng lính ngụy hò hét vẳng lên. Cô có vẻ lo lắng:

          – Chết, địch đi càn. Nếu chúng lên đây thì mình không còn lối thoát. Anh kiểm tra lại lựu đạn, đưa khí tài đây cho em giữ, không thể để lọt vào tay địch. Rồi cô trấn tĩnh lại:

          – Là mình đề phòng cho hết lẽ chứ không sao đâu! Nơi quá gần như thế này, chúng sẽ không nghi ngờ. Anh về chỗ trước, em xem xét tình hình rồi về sau.

          Thấy anh còn ngồi lại, cô bóp bóp vào vai anh ra ý giục đi.

          Nằm trong hang, mỗi lần nghe tiếng súng nổ gần là anh giật thốt. Hoạt lo lắng cho cô nhưng không biết phải làm gì.

          Thấy bóng Dung len vào anh mừng rỡ vô cùng, đưa tay nắm lấy tay cô. Trong lòng anh có điều gì lạ lắm. Điều chưa từng xảy ra. Dung cúi đầu, bàn tay để yên trong tay anh. Rồi họ chợt giật mình buông ra.

          Lát sau Dung bảo khẽ:

          – Đúng là địch đi càn.

          – Thường bao lâu? Hoạt hỏi.

          – Khi vài bữa, khi tuần lễ.

          Hoạt thở dài. Dung lại thầm thì:

          – Máy đo và đồ đạc em giấu kỹ rồi. Có gì mình sẽ liều với chúng. Giọng cô dứt khoát.

          Âm thanh gà kêu, heo éc, tiếng người la, súng nổ… chốc chốc lại vọng đến tai hai người. Họ chia nhau phong lương khô, mấy ngụm nước cuối cùng và hồi hộp đợi ngày qua.

          Đêm trôi đi trong tiếng súng đạn cầm canh. Rồi đêm lại đến…  

Tay Hoạt run lên vì đói. Cổ anh khô khốc, lả người. Mấy hôm nay trời lại không mưa. Chút nước sương ít ỏi chắt ra từ tấm tăng mà Dung nhường cho anh đã hết. Dung hết ngồi xuống lại đứng lên. Cô bàn với Hoạt:

– Em ra ruộng tìm mớ củ lang và nước uống. Chỉ mình em đi thôi, em rất rành đường…

– Không được! Nguy hiểm lắm. Hoạt nhăn mặt, thều thào.

-Anh yên tâm, nơi đây em quen thuộc. Xuống dưới chân núi là đã có rồi…

– Nhưng…

– Hãy tin em. Em biết địch đang chủ quan sau năm ngày lùng sục.

-Ráng đợi thêm ngày nữa. Anh năn nỉ.

– Biết bao giờ địch mới rút quân. Vả lại, nếu thêm một ngày thì mình chết đói mất! Dung khẩn khoản thuyết phục Hoạt.

Nhìn bóng cô lẩn qua vòm hang rồi khuất vào đêm đen, lòng Hoạt như lửa đốt. Anh mò ra cửa hang ngồi đợi. Nghe tiếng súng nổ xa xa là anh đau thắt người. Con dế nào gọi bạn tình réo bên tai anh từng chặp như nhịp tim anh đập lúc chậm, lúc nhanh. Đợi mòn mỏi rồi Dung cũng về. Hoạt vui mừng đến nghẹn ngào không thốt nên lời.

Nhận mấy củ lang còn bám nguyên đất từ tay Dung, Hoạt không ngờ loại củ quen thuộc này lại ngon đến thế. Anh cắn dè và nhai từng chút. Chất tinh bột thơm dịu mùi sữa làm cho Hoạt mau lại sức. Anh tìm trong bóng tối vuốt nhẹ tay Dung như thầm cảm ơn cô.

Tảng sáng, nhìn thấy vệt máu rỉ ra trên quần từ khoảng đùi Dung. Hoạt hốt hoảng:

-Ấy chết, em bị thương hồi nào sao không nói?

-Em có bị thương đâu! Không hiểu tại sao… Vừa nói Dung vừa xoay lưng lại, rờ rẫm một lúc. Thoáng chốc mặt cô xanh mét, miệng kêu ú ớ, hai chân giãy đành đạch. Hoạt vội vàng xắn quần Dung lên. Xắn tới đùi cô anh vẫn  chưa thấy chỗ nào  chảy máu. Lo sợ cho Dung, anh lòn tay vào dây thun lưng quần cô kéo xuống. Vừa nhìn thấy, Hoạt cố nín cười, giọng có vẻ xấu hổ:

– Ồ, chỉ con vắt lá thôi mà, để anh gỡ ra!

Con vắt trơn trợt không chịu nhả bẹn Dung nên Hoạt cứ kéo mãi, kéo mãi… Anh mơ hồ nghe tay mình chạm vào nhúm cỏ tóc tiên rười rượi ướt! Dung cong người lên, mắt nhắm nghiền, thở hổn hển…

          Đột nhiên tiếng qui-lát súng vọng vào. Hai người lòm còm ngồi dậy. Tiếng cành cây gãy và bước chân người lại gần. Hoạt đưa mắt ra hiệu cho Dung. Họ mở chốt an toàn mấy quả lựu đạn trước mặt, súng chìa ra phía cửa hang.

          Bỗng có tiếng kêu to:

          – Sáu ơi, mầy đi đâu đó?

          – Tao nghi có Việt cộng ở dưới mấy gộp đá kia mày ơi!

          – Bộ mày tưởng tụi nó ngu hay sao. Cách núi Tròn có mấy bước chân, núp trong ấy có khác gì đưa đầu vào họng súng. Mày coi chừng chứ đẵm mìn banh xác như thằng Ba Ngà hôm qua đó!

          – Ờ… ờ… thôi để tao ra.

          Có tiếng nước xè xè, sau đó bước chân xa dần.

          Hoạt ôm choàng lấy Dung, hôn vào môi cô. Hú vía!

          Cô nhìn anh, không nói gì. Tay mân mê vạt áo.

          Có lẽ không gặp lực lượng đối kháng nào, mà lại có mấy lính chết, bị thương vì đẵm mìn, nên địch rút quân. Tiếng người thưa thớt dần và đến trưa thì tắt hẳn.

          Họ vừa thoát khỏi cái chết trong gang tấc.

          Dung quay mặt qua anh, nhìn thắm thiết:

          – Không biết chúng có cài lại thám báo không. Đêm nay ta về. Việc của anh xong chưa?

          – Việc thì xong rồi, nhưng …. Hoạt thở dài

          – Sao?

          – Xa em.

          – Rồi mình sẽ gặp lại. Dung cắn nhẹ môi.

          – Biết đến bao giờ. Ngay cả đêm nay, biết đâu chúng mình cũng không về đến cứ.

          – Anh đừng nói giở…

          Vừa nói Dung vừa vuốt ve lên mũi, lên má anh. Mặt cô nóng bừng áp vào cổ Hoạt. Anh kéo cô nằm lên người mình rồi thì thầm:

          – Anh yêu em! Anh yêu em vô cùng. Dầu chỉ gần nhau mấy ngày nhưng anh có cảm giác mình quen từ kiếp trước. Giá mà không có chiến tranh anh sẽ về thưa với mẹ mang trầu cau đến hỏi em làm vợ.

 

 

– Em cũng yêu anh. Em  đã nghe tên anh từ lâu… Hơi thở Dung nóng hổi, dồn dập.

Hoạt lần tay mở từng cúc áo của cô. Khuôn ngực thanh tân, trắng ngần, đôi đầu vú hồng son nhỏ nhắn phập phồng hiện ra rờ rỡ trước mắt anh. Giữa hai bờ vú Dung rịn ra lấm tấm mấy giọt mồ hôi vàng nhạt. Hoạt úp mặt lên. Lưỡi anh vô tình chạm vào những giọt mồ hôi ấy. Một mùi thơm nồng găn gắt, đặc quách ôm lấy hai người.  Họ quyện vào nhau…

Lâu lắm Hoạt mới lên tiếng:

– Mãi mãi anh sẽ không quên em, nhưng chiến tranh không biết bao giờ mới kết thúc. Để khỏi lạc nhau, khi hoà bình chúng ta lấy ngày thành lập quân đội và trung tâm tỉnh làm nơi hẹn gặp. Nếu còn sống, anh sẽ tìm em ở đó.

– Nếu không chết, em hứa sẽ  đợi anh. Nhớ nhé! Cô gối đầu trên tay anh giọng rù rì. Đôi mắt chứa chan hạnh phúc.

Đêm ấy Dung đưa anh về. Cũng vất vả#, nguy hiểm như lúc đi. Họ men theo bàu Trai, lên lộ Bảy rồi qua gò Đu. Đến nơi, đơn vị Hoạt đã chuyển lên dốc Bình Minh. Họ vội vàng chia tay và chỉ kịp dúi cho nhau chiếc ảnh. Anh phải đến Tân An trước khi trời sáng để có du kích dẫn đường đi Bình Minh.

Anh mất cô từ đấy.

Về đơn vị, sau khi báo cáo tình hình và số liệu, Hoạt  được trên điều lên trung đoàn Ba Gia. Chỉ dăm tháng, anh lại chuyển tiếp đi Tây Nguyên. Rồi mặt trận lại nối tiếp mặt trận… Càng ngày anh càng cách xa khu tây Sơn Tịnh, xa nơi chốn có một người đang giữ trái tim anh.

Phải hai năm sau ngày giải phóng đất nước anh mới đi Quảng Ngãi được. Sợ Dung khó tìm, anh trèo lên chiếc lô cốt gần tháp nước ở trung tâm tỉnh đứng chờ. Cả một ngày vẫn không thấy cô. Nhớ địa chỉ cô cho ngày trước, anh tìm lên chợ Đình hỏi nhà. Gặp mẹ Dung, anh chưa kịp mừng, bà đã phán một câu: “Nhà này không có ai tên Dung, anh đến nơi khác mà hỏi!”. Anh sững sờ thất vọng, lục trên túi áo lấy ảnh Dung chìa ra. Bà ngắm nghiá, vuốt ve lên ảnh rồi rơi nước mắt nhưng vẫn lắc đầu. Anh đứng tần ngần.

Thấy cô gái ngồi ngoài hiên giơ tay vẫy. Anh vội vàng bước nhanh ra. Cô bảo nhỏ:

– Nhìn anh là em biết ngay, vì cuốn sổ tay chị Dung nhờ em giữ có ảnh của anh. Giọng cô chợt chùng xuống:

– Mẹ từ chị Dung rồi…

– Hả! Tại sao vậy? Hoạt thảng thốt.

– Chị ấy lấy ông sĩ quan nguỵ.

– Này, em đừng đùa, tội anh! Anh từ xa tìm đến đây. Hoạt không tin.

– Em nói thật đấy. Em là em út của chị Dung… Cả làng dị nghị nên nhà em khổ lắm, chịu không nổi. Chắc mươi ngày nữa gia đình em đi vô ông cậu trong Đồng Nai. Giọng cô chua chát, đau buồn.

– Bây giờ chị Dung ở đâu?

– Em cũng không biết, nghe rằng họ bỏ xứ đi rồi! Cô gái lắc đầu.

Đến giờ này anh mới tin Dung đã đổi lòng. Anh nghiến răng lại giận cô vô cùng. Anh muốn gào lên cho hả dạ. Anh muốn trả thù kẻ đã hai lần phản bội: quên lời hứa và kết duyên với kẻ thù. Anh muốn… anh muốn… Nhưng sâu trong lòng Hoạt là câu hỏi đau đáu: Người yêu ơi! Tại sao em bỏ tôi? Tại sao em lại ưng một tên sĩ quan nguỵ? Trái tim tôi nào phải trò chơi mà em nỡ vứt bên đường để đi lấy chồng?

Từ đó anh không thể quên được Dung. Có vài cô gái đến với anh. Kể cả lúc anh đã có vợ. Cái mùi hương nồng nàn, găn gắt từ giữa đôi bờ vú Dung trưa nào, như một thứ mê lực quyến rũ cứ nương theo lời hẹn xưa, thúc đẩy Hoạt tìm về.

Chỉ một số lần đau yếu sau này, còn hàng năm, cứ đến ngày tháng ấy là Hoạt đến Quảng Ngãi. Chiếc lô cốt họ đập rồi thì anh đứng đợi Dung dưới tán lá bàng ở bùng binh.  Cây bàng người ta đốn, anh lại ngồi lên gốc bàng.

– Tại sao quên lời hứa? Tại sao lấy kẻ thù? Tại sao bỏ tôi? Ơi mùi hương của tôi, tình yêu của tôi! Điệp khúc ấy khuất lấp đâu đây trong công việc hàng ngày, còn đêm nằm cứ vang lên trong đầu anh. Anh chỉ muốn gặp Dung một lần cho rõ.

Anh tìm cô một năm, hai năm… tìm cô mười năm, hai chục năm… và bây giờ thì…

– Này, anh Hoạt! Bà Thành vợ ông đã ngồi bên cạnh tự bao giờ. Bà thong thả rót trà ra chén trao ông, rồi nghèn nghẹn bảo:

– Em đã bỏ quần áo, đồ dùng vào va-li cho anh rồi. Sáng mai anh có thể đi. Bà Thành thở dài nói tiếp:

– Em không cần biết lý do anh đi Quảng Ngãi, nhưng anh hãy nhớ cho, bốn ngày nữa là con gái mình có chồng, đừng để em và con ốt dột.

Ông choàng tay qua cổ vợ, âu yếm siết vào người.

                                      *        *

                                           *

 

Còn Dung, ngày thống nhất, nghĩ đến buổi gặp Hoạt, Dung sung sướng vô cùng. Cô hình dung cảnh hai người sẽ sống dưới một mái nhà, hàng ngày làm ruộng, nuôi trâu, trồng khoai, thả cá… Càng nghĩ cô càng thấy tràn trề hạnh phúc. Nhưng lúc ấy, nguỵ quân – nguỵ quyền trình diện đông quá. Huyện điều cô lên Kim Liên tham gia quản lý số học viên bất đắc dĩ đó. Cô nhiều lần từ chối mà xã cứ động viên, giao nhiệm vụ. Cô đành phải chấp hành. Làm được mấy tháng, huyện chuyển cô lên tỉnh để đến trại giam cây số mười một – nơi cải tạo các cấp sĩ quan nguỵ. Công việc của cô là dẫn một nhóm đi lao động và theo dõi việc học tập của họ. Nhóm của Dung khoảng 30 sĩ quan. Mặc dù được học tập về các chính sách, nhưng lần đầu thấy những kẻ mà bàn tay đã vấy máu nhân dân, vấy máu đồng đội, thậm chí đã cướp cả đứa con của cô, Dung không thể nào chịu được. Hễ không có chỉ huy là cô tìm cách hành hạ họ. Chuyện cũng nhỏ thôi, như đốn thêm cây, tưới nước rau hoặc cho họ làm gì đấy để về trễ giờ cơm. Cô trả thù lụn vụn như vậy.

          Trong nhóm cô phụ trách, có một gã sĩ quan thoạt nhìn cô đã ghét. Sao lại có người đàn ông to xác mà ẻo lả như thế. Nước da trắng, lông mi cong, ngón tay lại thuông dài… Ngữ ấy chắc là chuyên ăn trắng, mặc trơn. Cô nghĩ thầm. Tuổi của gã cũng chỉ hơn cô một vài năm thôi. Hừ! vậy mà đã sĩ quan, đã làm tay sai cho địch. Ngó hắn là cô thấy chướng mắt. Cô đề nghị cấp trên đổi cho cô người khác, cấp trên không đồng ý nên cô càng bực mình hơn.

          Hình như cũng biết cô cán bộ trẻ này “chiếu tướng” mình nên Hải – tên người sĩ quan ấy, luôn cố gắng làm để cô vui lòng. Nhưng trời ơi, hắn càng hăng hái bao nhiêu thì càng làm cho cô phiền phức bấy nhiêu. Như hôm cô dẫn nhóm đi chặt củi ở núi Chóp Vung về cho bếp ăn. Hắn xung phong đi đầu và cũng là người xuống núi trước. Đang đi đến lưng chừng dốc thì cả đoàn ùn cứng lại. Cô chạy lên xem. Chao ôi là tức, chỉ một nhúm củi chà rinh nhưng do hắn xóc đòn gánh ngang nên mắc vào các lùm cây không đi được. Cô lại phải chỉ cho hắn cách sắp củi, cách bó cành, đóng nêm, gaêm đòn xóc vào chỗ nào. Cô dặn hắn, củi chà rinh dứt khoát phải gánh dọc. Hắn kính phục nhìn từng động tác cô làm. Rồi lần đi chặt củi cơm, thay vì xóc ngang thì hắn lại xóc dọc. Củi chưa đặt trên vai đã đổ loạn xạ. Đi đốn cây về làm giàn bầu, giàn bí cải thiện, hắn chặt toàn móc chó, cây sơn, làm cho mình mẩy hắn sưng vù. Cô không hiểu  được, sao lại có loại đàn ông vô tích sự như thế. Mà ngạc nhiên thật, vai hắn to vậy, nhưng hễ đặt vật gì lên, dẫu gánh đôi thùng nước nhỏ cũng làm cho thân hình hắn khom lại, còn áo thì luôn luôn gấp chèn trên vai. Nản lòng, cô quát gã:

– Thôi, từ mai anh đi đốn tre về chẻ hom. Mỗi ngày anh mang về một khúc tre cũng được.

Hải có vẻ buồn nhưng không nói gì.

Mới nửa buổi đã có người báo cho cô là họ đang khiêng hắn vào trạm xá. Dung tức tốc chạy lên. Thì ra, thay vì rong tre trước khi chặt, hắn không làm vậy, cứ thế phang ào, để rựa bập vào ngón chân. Hắn tỏ ra xấu hổ khi cô kiểm tra vết thương.

Vắng hắn tuần lễ cô cũng thấy nhơ nhớ. Chỉ hơi hơi thôi. Có lẽ vì hắn là người Dung phải thường xuyên quan tâm , nhắc nhở nên lâu ngày thành thói quen.

Khi vết thương Hải đã đỡ, rút kinh nghiệm vừa qua, Dung đứng một bên hướng dẫn anh cách chẻ hom đánh tranh. Cô lơ mắt một tí, ngón tay anh đã bị tre kẹp toé máu rồi. Lần này bị nhẹ, cô băng bó, săn sóc anh.

Còn đánh tranh thì Dung chịu thua. Cô giảng giải thế nào là đánh lóng mốt, lóng hai, lặn hai hom, mọc bốn hom anh vẫn không hiểu. Nhìn tay cô thoăn thoắt, anh gật gù. Nhưng tấm tranh anh đánh xong, đoạn thì rơi, đoạn thì rọi lên thấy cả mặt trời.

Cô lắc đầu nhìn anh ngao ngán. Người vụng như thế thì làm sao có cơm ăn! Dung lầm bầm trong miệng.

Sau đợt lao động, ban chỉ huy trại tổ chức học  chính trị cho số sĩ quan ấy. Dung vẫn quản nhóm của mình. Cuối kì học, từng nhóm thi làm báo tường  với nhau. Thay vì viết thu hoạch , ban chỉ huy cho học viên viết cảm nghĩ của mình đối với cách mạng . Dung bất ngờ trước hoa tay của Hải. Chữ ‘Hối lỗi” anh kẻ bằng thuốc đỏ, đường bóng được viền ký-ninh vàng  và bút chì cô thấy không thua gì những bảng hiệu buôn dưới thị trấn. Dung càng bất ngờ hơn khi đọc bài viết về mẹ của anh. Người phụ nữ ấy đã không còn chồng khi mới ngoài 20 tuổi. Bà ở vậy tảo tần nuôi anh ăn học. Thương con vắng cha, bà gánh vác mọi  cái cho anh, không cho anh mó tay vào bất cứ việc gì. Đậu tú tài đôi, địch bắt Hải đi quân dịch. Học trường sĩ quan ra đương nhiên anh  là chuẩn uý… Anh chưa bao giờ đỡ đần cho bà điều gì. Cuối bài viết, chữ: Mẹ ơi! của anh như tiếng gọi thảng thốt, làm cho Dung tự nhiên bối rối.

Nhóm của cô đạt giải nhất.

Không biết tự bao giờ, Dung không còn ghét Hải nữa.

Đơn vị lại tổ chức biểu diễn văn nghệ. Hải nhờ cô đến hiệu sách mua giúp tập nhạc. Anh tập hát cho nhóm. Những bài hát Dung quen thuộc, lẫn những bài  cô mới nghe vài lần trên đài phát thanh, anh đều  nhìn vào nốt nhạc xướng âm và hát được ngay. Lại hát rất hay. Dung chưa thấy ai giỏi như vậy! Cô đã bắt đầu nhìn anh bằng con mắt khác.

Hải tập cho Dung đơn ca. Nhìn ngón tay anh nhẹ nhàng chạy trên phím đàn ghi-ta với hàng chuỗi âm thanh rộn rã, lòng cô dậy lên một cảm xúc khó tả. Cô mơ hồ nhận ra những hiểu biết của cô về người khác chưa hẳn đã đúng. Việc cô cho là đơn giản thì có khi, với ai đó lại quá khó khăn. Điều cô nghĩ, chuyện chỉ số ít người tài năng làm được, thì bây giờ cô đã thấy trước mắt mình.

Hai người gặp nhau thường xuyên. Giờ đi lao động, cô giúp anh làm việc. Lúc giải lao, anh giúp cô tập hát. Về trại cũng thế, lấy cớ phải hỏi cán bộ về  những bài đang học tập, anh tìm cô. Hình như anh cũng nhìn Dung bằng ánh mắt lạ, lấp lánh trong ấy những điều muốn thổ lộ. Chuyện hai người bị xì xào. Chỉ huy gọi cô lên. Cô kể lại mối tình của mình với anh bộ đội tên Hoạt và lời hẹn ước ngày xưa. Còn Hải cô chỉ xem là cậu bé to xác, đụng đâu hư đó, không có khả năng làm việc cho nên cô giúp đỡ anh thôi. Chẳng có gì giữa cô và Hải.

Cô tin điều ấy.

Rồi mẹ Hải mất. Anh khóc ròng ôm chặt lấy cô như tìm nơi bám víu. Dung dẫn anh ra bờ suối an ủi. Giữa tiếng nấc của người đàn ông, cô nghe anh nói gì đấy về tình yêu. Dung bỏ Hải lại vùng chạy về phòng.

Mấy ngày sau ba của Hải đến thăm anh. Ông cũng kịp có gia đình ngoài bắc. Tình cảm cha con không thắm thiết lắm. Làm giấy bảo lãnh cho Hải xong, ông dúi vào tay anh hai trăm đồng tiền bán nhà. Anh không nghĩ ngôi nhà nhỏ xinh xinh, cả đời  dành dụm của mẹ anh  lại chỉ có ngần ấy tiền. Nhưng Hải không nói gì. Ba anh có bảo anh ra ngoài bắc ở cùng bằng giọng không nhiệt tình lắm. Trước đó ông đã rào đón chuyện anh bộ đội đào ngũ và cách thức địa phương dẫn đi biêu riếu. Hải nghe ớn lắm. Người ở đó đã vậy, huống hồ anh là sĩ quan nguỵ!

Thế là Hải không còn chốn nương thân. Dung nhiều đêm suy nghĩ. Cô yêu Hoạt nhưng rất thương Hải. Tình thương ấy như chỉ dành cho đứa con chưa kịp chào đời mà cô đánh mất trong lần lội nước bạc, đợt chống càn năm ngoái. Hai người đàn ông của cô tương phản nhau, họ đối nghịch từ hoàn cảnh đến tính cách và đều yêu cô. Hoạt có thể lo toan tốt đẹp cho cuộc sống của mình, còn Hải thì quá yếu đuối. Hoạt thực tế bao nhiêu thì Hải mơ mộng bấy nhiêu. Mà Hoạt thì ngay năm đầu tiên, cô cũng y hẹn xuống trung tâm tỉnh đợi cả ngày. Dung cũng viết thư, tìm đủ cách hỏi tin Hoạt. Có người bảo rằng anh đã hy sinh ở Xuân Lộc. Có kẻ báo tin Hoạt ra bắc học. Có người cho là anh đang truy quét phun- rô tận biên giới. Hoạt mất tích hoàn toàn. Cuối cùng cô lựa chọn với bao dằn vặt đau đớn, đau đớn như người phụ nữ lúc sinh con.

Nhờ có ba bảo lãnh nên Hải ra trại sớm. Cô làm đơn xin nghỉ công tác. Không kịp đợi đơn vị quyết định, cô lầm lũi mang ba lô theo anh. Cô ra đi bỏ lại sau lưng mình hình ảnh cô du kích một thời nổi tiếng cả miền tây Sơn Tịnh về tính gan dạ, sự thông minh và “suýt” được phong dũng sĩ.

 

Hai người chưa biết định cư nơi nào thì người bạn thân của anh thời học văn khoa Sài Gòn nhắn họ vào Thạch Bi, Sa Huỳnh ở tạm. Từ đó cô cắt đứt dĩ vãng của mình, hàng ngày làm muối, chạy chợ rỗi… nuôi chồng, nuôi con.

Những năm sau, nhớ đến ngày hẹn với Hoạt, Dung vẫn ra thị xã. Cô chỉ dám nép vào góc phố, nhìn anh từ xa rồi len lén quệt nước mắt.

                                           ***                                     

Tôi – người kể lại chuyện này, làm nghề sửa giày dép. Do bị sốt bại liệt teo cơ, ngụy không bắt đi lính nên từ trước giải phóng, tôi đã chọn gốc phượng già ven đường làm kế sinh nhai. Ngày mới thống nhất, đa số người dùng dép cao su, không mấy ai xài đồ da nên tôi rất rảnh. Thấy anh bộ đội cả ngày ngồi trên lô cốt, mắt dáo dác nhìn quanh là tôi đã chú ý. Năm sau, năm sau, những năm sau nữa… tôi vẫn thấy anh dưới cây bàng ngóng tìm ai. Anh là người của quân sự, tôi không dám hỏi. Mãi đến năm cây bàng đốn đi, cuộc đợi chờ của anh dường như vô vọng. Thấy tôi tàn tật , mưu sinh khó khăn, anh chủ động làm quen, giới thiệu tên là Hoạt. Qua những lời tâm sự rời rạc của Hoạt, tôi hình dung ra chuyện tình anh với Dung. Tôi cũng đã gặp Dung. Tôi còn nhớ chiều ấy, khi anh vừa đi khỏi là có người đàn bà đến mân mê gốc cây. Tôi hơi nghi. Vừa mở miệng thì đúng là cô. Dung bắt tôi hứa dứt khoát không kể lại việc đã gặp cô với anh. Nghĩ hai người đã yên bề gia thất nên tôi vẫn giữ lời hứa đến giờ.

 Tuổi già sầm sập tới. Sức khỏe của tôi yếu dần, tay run không sửa giày  dép được nữa. Tôi lên chùa An Thế trú thân, ăn mày cửa phật. Cách đây ít lâu, bà Dung có đến tìm tôi và mong được gặp ông Hoạt vào ngày ấy năm này, bà lưu lại địa chỉ cho tôi. Cũng là cơ duyên, gần chùa có người muốn vô Tây Nguyên tìm việc làm, tôi mách họ đến chỗ ông Hoạt và viết thư gửi cho ông biết ý bà Dung. Chắc chiều mai, ông sẽ về đến Quảng Ngãi.

Tôi vẩn vơ suy nghĩ. Khi hai người gặp nhau, ông Hoạt sẽ cố tìm lại mùi hương cũ cùng bà Dung. Và ông thất vọng. Là người suốt đời độc thân, tôi không dám lạm bàn chuyện trai gái. Nhưng vốn chơi hoa quỳnh, tôi hiểu rằng, giọt mồ hôi ngát hương, đậu trên những sợi lông non tơ giữa khe ngực cô Dung ngày xưa mà ông từng ngây ngất, chính là mùi trinh nữ rất riêng ở mỗi người con gái; như hoa quỳnh bừng nở hân hoan kia, chỉ dâng tuyệt mùi thơm trong lần đầu chấm cành giao vào môi nhụy.

Nếu hiểu được điều ấy, khi trở vào Tây Nguyên ông Hoạt sẽ quên mối tình cũ và yêu vợ mình hơn.

Cũng có thể khi gần gũi bà Dung, ông phát hiện ra cái mùi nồng nàn, quyến rũ ông mãi, chính là mùi sữa quyện mồ hôi mà mẹ ông phải vội vàng băng đồng về cho ông bú trong thời thơ ấu. Ông bị ám ảnh mùi mẹ một cách vô thức.

Lại cũng có thể, bên nhau rồi ông lại càng không quên bà Dung. Mùi hương ấy chỉ là cái cớ, là sợi dây nối ông với thời trai trẻ hào hùng mà ông luôn nhớ.

Nhưng có điều này tôi tin, là chuyện bà Dung và Hải sẽ làm cho ông Hoạt cảm động. Ông không còn thắc mắc tại sao bà lại bỏ ông. Người quản tù ưng tù nhân xưa nay ít xảy ra lắm! Tấm lòng bao dung, cao cả của bà Dung, chỉ có người mẹ mới hi sinh được. Bà đã từ bỏ ánh hào quang của người chiến thắng để theo Hải, như người mẹ sẵn sàng tất cả vì con, dẫu đứa con đứng dưới đáy tận cùng của xã hội.

Mà thôi, hai người vẫn chưa gặp nhau. Biết đâu vì một lý do nào đấy, ông Hoạt không ra, hoặc bà Dung lại từ chối gặp.

Tôi là người cả nghĩ. Biết họ đã là duyên, đã thành nợ. Duyên nợ tùy cơ mỗi người, không ai can thiệp được. Tôi viết lại chuyện Dung và Hoạt cũng là kẻ ngoa ngôn, lộng ngữ lắm rồi.                                                          

L.H.V

 

 

 

 

 

 

 

Entry filed under: 10- TRUYỆN NGẮN, LÝ VĂN HIỀN. Tags: .

Chùm thơ LƯU LÃNG KHÁCH Chùm thơ nhiều tác giả về Giáng sinh 2015

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 301,078 Người

Danh mục


%d bloggers like this: