“Về Tổ” – Bách khoa thư nhỏ về biển đảo… bằng thơ

Tháng Mười 28, 2014 at 7:07 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tap-tho

“Về Tổ” – Bách khoa thư nhỏ về biển đảo… bằng thơ 

 

Về Tổ” – tập thơ của nhà thơ, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ, được Nxb Hội Nhà văn ấn hành quí III năm 2013. “Về Tổ” tuy chỉ có chưa đến 160 trang, khổ nhỏ, vuông vức xinh xắn, nhưng chứa đựng một khối lượng khá lớn tri thức, mang tính bách khoa về biển, đảo Việt Nam.

Nói “Về Tổ” có tính bách khoa thư về biển đảo, bởi người đọc sẽ tìm thấy, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu/tra cứu về rất nhiều vấn đề có liên quan đến biển, đảo Việt Nam. Ta tìm thấy ở “Về Tổ” tên của rất nhiều hòn đảo, quần đảo, bán đảo; về truyền thuyết hình thành đảo (như đảo Lý Sơn); về nguồn gốc tên gọi các đảo; về nguồn gốc một số địa danh trên đảo; về lịch sử dựng bia chủ quyền đảo; về âm mưu của kẻ thù (Trung Quốc) xâm lược biển đảo; về bộ đội Hải quân Việt Nam; về Hải đội Hoàng Sa; về tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân biển, đảo Việt Nam với tên các ngôi chùa, đặc điểm của từng ngôi chùa, đình, miếu, với tục thờ cá Ông/cá Voi,…; về giáo dục trên đảo; về kinh tế biển đảo; về việc trồng rau xanh trên đảo; về kiến trúc nhà ở trên đảo; về tình yêu biển đảo và tinh thần dũng cảm bám biển của ngư dân mặc cho Trung Quốc ngăn cản, phá hoại; về phong trào góp đá xây Trường Sa; về lính đặc công nước; về ca đỡ đẻ ngoài đảo Trường Sa, dưới sự điều khiển của các bác sĩ trong đất liền thông qua truyền hình cáp (bài Đời nối dòng đời);…Điều đặc biệt hơn, hấp dẫn hơn là Nguyễn Thế Kỷ đã dùng thể loại thơ, dùng ngôn ngữ thơ để chuyển tải những nội dung bách khoa đó. Chính vì thế, “Về Tổ” là tập bách khoa thư đặc biệt. Ở chỗ, nó không như tập bách khoa thư bình thường là chỉ để tra cứu tìm thông tin, tìm những con số khô khan, hay những thuật ngữ khoa học bình thường vô hồn mà, ta còn bắt gặp ở đây tình cảm của người viết về chính cái – đối – tượng mình mô tả kiểu bách khoa thư đó. Trước Nguyễn Thế Kỷ chưa ai làm điều này, nhất là với chủ đề biển, đảo quê hương.

Dưới đây, xin nêu một số kiến thức bách khoa mà “Về Tổ” đã cung cấp cho chúng ta một cách khá đầy đủ, chính xác.

1. Trong “Về Tổ”, ta có thể tìm thấy tên nhiều quần đảo, đảo, bán đảo thuộc chủ quyền Việt Nam

Nước ta có đường bờ biển dài hơn 3.200km, diện tích biển chủ quyền và biển trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam lớn hơn nhiều lần đất liền. Trong vùng biển nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ. “Biển đảo quê hương” được Nguyễn Thế Kỷ đề cập  đến trong tập thơ không phải là tất cả biển, đảo Việt Nam, mà là một số đảo và quần đảo thuộc các đơn vị hành chính khác nhau, gồm: Quần đảo Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa), quần đảo Hoàng Sa (thuộc Tp Đà Nẵng), đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) và bán đảo Cam Ranh (thuộc tỉnh Khánh Hòa).

“Về Tổ” cho ta biết quần đảo Trường Sa có rất nhiều cụm đảo, như: Song Tử, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, An Bang, Bình Nguyên….Nhà thơ cho ta biết cụm đảo Song Tử, là cụm đảo “song sinh”, gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây:

“Cũng kề nhau, cũng xinh xinh
Đá Nam, Đá Bắc kết tình san hô
Vòng cung dài rộng nhấp nhô
Biển vùi không lấp, sóng xô mặc dầu
Bãi Đinh Ba, bãi Núi Cầu
Phía đông hai cụm ngầm sâu coi chừng…”
Cụm đảo Nam Yết, được tác giả mô tả:
“Nam Loại Ta, Bắc Sinh Tồn
Bình minh Nam Yết, hoàng hôn Ba Bình
Ba Bình lớn tự nguyên sinh
Sơn Ca, Én Đất, Ga Ven… mặn mà
Bãi vòng tên gọi Tizard
Đá Lớn, Chữ Thập, Trịnh Hòa quần tiêu”

“Về Tổ” còn cho ta biết, trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, ngoài các đảo đúng nghĩa của từ này đã được đặt tên trên đây, còn có rất nhiều đảo chìm (“Đảo Chìm ngầm bãi Đá Đông”), có Nhà dàn DKI. Qua thơ Thế Kỷ, ta biết được ở đảo Trường Sa có điện: “Đêm Trường Sa lung linh / Điện, trăng giành nhau sáng”. Ta biết được “ Ở Trường Sa gạch đá / Đều khắc dấu Quốc huy”. Ta biết ở Trường Sa có con đường mang tên Thanh Niên,…

Trong số những đảo được nhà thơ giới thiệu trong “Về Tổ”, đảo Lý Sơn được tác giả phản ánh sâu sắc nhất, toàn diện nhất. Người đọc có thể tìm thấy trong “Về Tổ” kho tàng kiến thức toàn diện về hòn đảo chỉ cách cảng Sa Kỳ của Quảng Ngãi 16 hải lý, như: về nguồn gốc hình thành đảo (bài “Truyền thuyết Lý Sơn”), nguồn gốc tên gọi xưa của Lý Sơn (bài “Cù lao Ré”). Có rất nhiều địa danh, trong đó có những nơi là danh thắng của Lý Sơn, được Thế Kỷ đề cập đến bằng một bài thơ, như: Suối Chình thác Trắng, Hòn Bé, Hang Kẻ Cướp, Dinh Bà Roi, Núi Lý Sơn,…

2. Trong “Về Tổ”, ta biết được khá đầy đủ, chi tiết về tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân biển đảo 

Đối với ngư dân ven biển, thờ cá ông/cá Voi là tín ngưỡng thiêng liêng và phổ biến của ngư dân vùng biển nước ta, nhất là ven biển Trung Bộ và Nam Bộ. Tín ngưỡng này được Thế Kỷ đề cập đến trong bài Xuân mừng Ông. Quan hệ giữa cá Ông và ngư phủ là quan hệ của người bị nạn hàm ơn/trả nghĩa với người cứu nạn (cá Ông). Bài thơ cho ta biết được các sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa – lễ hội của tục thờ cá Ông xưa và nay:

“Ngoài khơi cá Ông và ngư phủ
Duyên phận rủi may chẳng phụ trời
Lúc ngư phủ nạ tai sinh tử
Khi cá Ông hiển hiện cứu người
Trong lộng thấy cá Ông dạt vào
Ven bờ ngư phủ dạ nôn nao
Ông vào làng như vàng vào tủ
Chôn cất khăn tang dải trắng đầu
Nam Hải thần ngư – ấy cá Ông
Sắc thần thờ phụng tự dân phong
Lập khu nghĩa địa nơi Ông nghỉ
Đền một Hưng Lương cả biển lòng
Cầu ngư lễ hội thường sau Tết
Bảo trạo, đua ghe, hát bội mừng
Mừng Ông, mừng tuổi, mừng ngư nghiệp
Khơi lộng được mùa cá đón xuân”.

 Người dân đảo Lý Sơn theo nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, như: đạo Phật (trên đảo có Chùa Hang, chùa Đục,…); tín ngưỡng thờ tiền hiền (trên đảo có đình An Vĩnh, An Hải/An Long,…); tín ngưỡng thờ ông bà tổ tiên và những người đã mất (trên đảo Lý Sơn có những ngôi mộ gió, Âm Linh tự,…)… Nhiều cơ sở thờ tự này đã được Nguyễn Thế Kỷ phản ánh trong tập “Về Tổ”.

Tôi đã đến lễ ở chùa Hang, chùa Đục trên đảo Lý Sơn, nên khẳng định chắc chắn bài thơ viết về hai ngôi chùa này của Thế Kỷ là chính xác. Về chùa Hang, tác giả viết:

“Thới Lới” đến gần vách núi trông
Chân lên dốc đứng bậc thang chồng
Quan Âm Bồ Tát như minh chứng
Gió cuộn mây vần giữa sắc không
Sân trước gốc bàng găm truyền thống
Ngàn năm “Thiên Khổng” vững như đồng
Chùa Hang nước giọt đong non xuống
“Thạc tự” chuông lên quyện gió lồng…”

Còn ngôi chùa Đục, với chi tiết rễ cây bồ đề bám vào vách núi trên cửa chùa, thì đủ biết tác giả đã lên tới đây rồi:

“Đục núi làm chùa nên chùa Đục
Thọ kinh thành Phật hóa kinh thiêng
Lý Sơn chùa đẹp dày công đức
Rễ quấn bồ đề gốc tự nhiên”.

Nói đến đời sống văn hóa tâm linh của người dân trên đảo Lý Sơn mà không nói đến những ngôi mộ gió, đến lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, là một thiếu sót lớn. Lý Sơn là quê hương của Hải đội Hoàng Sa – những người đã hàng trăm năm trước được trao trọng trách cắm mốc chủ quyền và quản lý, khai thác nguồn lợi kinh tế ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lý Sơn là quê hương của những ngư phủ đã hàng trăm năm nay là chủ nhân của ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa. Trên đất Lý Sơn, quanh đảo hay len lỏi trong các ngõ xóm của hai xã An Vĩnh và An Hải, không khó để bắt gặp những nấm mồ đắp bằng đất pha cát nằm rải rác, ẩn mình trong những luống hành, luống tỏi hay những thửa ngô xanh bạt ngàn; hay lẩn khuất, xen kẽ với những nhà dân hay bên cạnh những Âm linh tự. Có vô khối những nấm mộ chỉ cao hơn ngọn cỏ, gợi  ta nhớ tới câu thơ gợi cảm về một số phận cô đơn, lẻ loi ngay cả khi đã nằm xuống 3 tấc đất của Nguyễn Du: “Sè sè nấm đất bên đường”. Người ta chỉ có thể hình dung đó là ngôi mộ bởi xung quanh được đánh dấu địa giới bằng một vài hòn đó đen. Đó là những ngôi mộ gió. Trên đảo Lý Sơn hiện nay có hàng trăm ngôi mộ gió. Hàng trăm năm nay, mặc bao bão biển, gió cát khơi xa vùi lấp, song những ngôi mộ gió vẫn được người dân đảo Lý Sơn chăm nom, ấm hương khói. Bởi, đó là hiện thân, là hình bóng của những Hùng binh Hoàng Sa, của những ngư dân dũng cảm, kiên cường bám biểm sinh sống và giữ chủ quyền biển đảo Tổ quốc năm xưa, tuy thân xác đã tan vào biển cả Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng linh hồn họ đã về trong tấm lòng bao la của Đất Mẹ Lý Sơn. Bởi những ngôi “mộ gió” đó là chứng tích về các thế hệ người Lý Sơn khí phách kiên cường, quả cảm, đã hy sinh  giữ vững chủ quyền biển đảo Tổ quốc. “Mộ gió” chính là những tượng đài bất tử về những người sống chết với Hoàng Sa. Vì vậy, tôi rất thán phục Nguyễn Thế Kỷ đã viết  rất đúng về mộ gió:

“Liễu xanh gốc đứng cành nghiêng gió
Khói trắng theo mây sóng dập dồn
Nhớ giỗ một ngày quên mãn khó
Trăm năm mộ gió nỗi bồn chồn
Bờ thương năm tháng mồ đâu cỏ
Bãi nhớ ngày đêm cát đượm hồn
Nắng rớt bóng tà xen lỗ chỗ
Mưa rơi lả tả lẫn hoàng hôn…”

Nguyễn Thế Kỷ tả mộ gió trong bài Âm Linh tự:

“Bát ngát trùng dương ôm mộ gió
Núi sông thương tiếc mấy cho vừa
Mây bay sương chỏ hồn lưu khứ
Cát chảy nắng dồn bóng đứng trưa
Mộ gió xác không dường lữ thứ
San hô đáy biển sóng hồn đưa”.

Hải đội Hoàng Sa đã tồn tại và hoạt động liên tục suốt 3 – 4 thế kỷ. Đã có hàng vạn trai tráng đã vượt qua không biết bao nhiêu sóng gầm, bão tố để đo đạc thủy trình, cắm cột mốc dựng bia chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Khao lề thế lính Hoàng Sa là lễ/lệ nhằm khao quân, và thực hiện nghi lễ tế sống (thông qua nghi lễ hình nhân thế mạng) cho những người sắp xuống thuyền đi thực thi nhiệm vụ triều đình giao phó, và mặt khác, còn để tế lễ và tưởng nhớ linh hồn những người lính Hoàng Sa, Trường Sa đã khuất. Nghi lễ thế/tế lính là nghi lễ tế sống, mang đậm yếu tố phù phép của đạo giáo nhằm thế mạng cho người đi lính. Khi buổi tế lễ thế lính Hoàng Sa kết thúc, người lính coi như “đã có một lần chết”, và “hùng binh” ấy có quyền tin tưởng rằng mình sẽ không còn phải chết nữa, cho dù sẽ trải qua muôn vàn bất trắc trên biển khơi ròng rã 6 tháng liền. Nhưng trên thực tế, rất nhiều lính Hoàng Sa vẫn không thoát khỏi sóng to gió lớn và điều kiện sống kham khổ ở Hoàng Sa. Trong số hàng vạn người ra đi ấy, người có may mắn trở về không nhiều.  Không ít năm, cả 70 người trong Hải đội Hoàng Sa đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, nhưng không có ai sống sót trở về. Khao lề thế lính Hoàng Sa là một nét đặc sắc của văn hóa tâm linh Lý Sơn, đã đi vào câu ca:

“Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng ba khao lề thế lính Hoàng Sa”

Câu ca quá não nùng, nhưng đấy lại là sự thật, là lời tóm tắt số phận của những người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa từ thủa xa xưa ấy. Những người lính trong Hải đội Hoàng Sa biết rất rõ mỗi lần ra đi làm nhiệm vụ là rất ít có hy vọng trở về, nhưng họ vẫn không hề nao núng, làm lễ tế sống mình, rồi lên đường.

Nguyễn Thế Kỷ chắc chắn đã tham dự, đã tìm hiểu kỹ về lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, nên trong bài Khao lề thế lính Hoàng Sa, ông đã mô tả rất chính xác về nghi lễ, mục đích tổ chức lễ này. Trong bài thơ ông đã nhắc đến tên những người lính Hoàng Sa nổi tiếng đã hy sinh, như: cai Khiết, cai Thăng, Chánh Thủy quân suất đội Hữu Nhật,…

Với bài “Ngôi chùa ở Trường Sa”, Nguyễn Thế Kỷ không chỉ làm cái việc của người biên soạn bách khoa thư mô tả đúng một ngôi chùa ngoài đảo Trường Sa Lớn chứ không phải trong đất liền: kiến trúc mái ngói cong hồng, có sân chùa xanh rợp gốc phong ba, có tiếng mõ khuya, tiếng chuông sớm, ông còn cho ta biết mục đích dựng chùa trên đảo là để:

“Phật giáng linh thiêng triệt ác tà
Tình biển ấp iu người lính trẻ”

Từ đó, trong bài này, Thế Kỷ có câu thơ vào hàng tuyệt tác:

“Mái ngói cong hồng nghiêng đáy bể”.

Khi thấy một đời sống tôn giáo, tín ngưỡng đã ăn sâu vào đời sống tâm linh và hiện hữu là những cơ sở vật chất mang yếu tố thuần Việt, là những minh chứng về việc người Việt đã làm ăn sinh sống từ bao đời trên các đảo này. Và, các đảo này thuộc chủ quyền Việt Nam là điều không thể đảo ngược được.

3. Trong “Về Tổ” có lịch sử Việt Nam cắm mốc chủ quyền và lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ biển đảo của các thế hệ người Việt Nam

– Trong bài Tổ quốc Việt Nam, Thế Kỷ đã cho ta biết:
“Cắm cột mốc chủ quyền thời Minh Mạng
Đặt trai binh trưng thuyền thuở Pháp sang
Sát nhập Hoàng Sa vào địa chính xứ An Nam
Pháp – Gia Long lại đo đạc thủy trình, thủy phân lần nữa
Bao nhiêu đời tổ tông, con cháu…
Mãi đến bây giờ sử sách khó phi tang
Hoàng Sa, Trường Sa là Tổ quốc Việt Nam”

– Trước việc một Việt kiều quê Đà Nẵng đã sưu tập hàng trăm bản đồ cổ ghi tên Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam để gửi về quê hương Đà Nẵng – nơi có huyện đảo Hoàng Sa – Nguyễn Thế Kỷ xúc động làm bài Trăm tấm bản đồ, ca ngợi nghĩa cử yêu nước này:

  Một tấm bản đồ cả biển Đông
Chín vàng mười ngọc khó mà đong
Dẫu xa… xa mấy tình không cách
Nỗi nhớ Hoàng Sa trĩu nặng lòng
Việt kiều xứ Quảng bên trời Mỹ
Nghĩ tới Hoàng Sa nước mắt đầm
Trăm tấm bản đồ ngàn đích chỉ
Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam”.

– Trong bài Hải chiến ngày xưa và bài Bạch Đằng lần sau, Thế kỷ đã nêu bật những võ công hiển hách của Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo nhấn chìm hàng vạn quân Trung Quốc xâm lược trên dòng sông Bạch Đằng. “Đằng giang tự cổ huyết do hồng” đã là mồ chôn những đội quân Nam Hán, quân Nguyên – Mông. Tiếp nối những câu thơ của Trương Hán Siêu trong Bạch Đằng giang phú:

“Đến nay nước sông tuy chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa nồi!”

Nguyễn Thế Kỷ có những câu:  
                                
“Ngày xưa hải chiến với quân Tầu
          Nhớ lại Bạch Đằng để nhắc nhau
          Cọc gỗ dân Nam đầu nhọn sắt
          Vạn thuyền xác giặc nước vùi sâu”
Hay:
          “Bốn trăm thuyền giặc phơi sông máu
          Ảo mộng xâm lăng chìm đáy sâu”.

– Trong cuộc chiến chống quân Trung Quốc xâm lược biển đảo quê hương, trận chiến của các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam bảo vệ đảo Gạc Ma năm 1988, đã có 64 chiến sĩ hy sinh, để lại trong Thế Kỷ nhiều cảm xúc. Ông có ba bài viết về trận chiến này, rất xúc động, là Nghe vọng Diên Hồng, Không phải con nằm đâu đây và Chiếc áo kỷ vật.

– Trong bài Không phải con nằm đâu đây:
“Tại vùng đảo Cô lin – Len đao
Sáu mươi tư chiến sĩ chậm mau
Ra đi chẳng hỏi chào đồng đội
Mẹ ạ, con cũng bất ngờ quá vội
Không kịp thưa qua mẹ tiếng nào
Cho đến tận bây giờ chỉ biết có biển sâu
Và những con sóng cứ gào, gào không ngớt”.

Người chiến sĩ Gạc Ma hy sinh rồi mà vẫn còn nghĩ đến mẹ, nghĩ đến con, đến vợ. Và anh đã có những ứng xử vẫn tình đời, nhân văn cao cả, cả khi đã hy sinh:

“Con vừa chợt thấy tóc mẹ bạc trắng
Đáy biển sâu không có sóng để con nhầm
Mẹ ơi! Bây giờ nhớ con mẹ cứ yên tâm
Về Lý Sơn bảo con con mau ăn, chóng lớn
Nhìn trái bàng vuông hay văn, giỏi toán
Trông ra Trường Sa mến bạn kính thầy
Bảo vợ yêu của con, chớ nghĩ tới thiếu đủ tháng ngày
Chớ đợi mãn tang chồng cho vơi đầy lòng ray rứt
Cái đêm chia tay trước nhà, vợ con là đốm đuốc
Cái ngày con ra đi vì nước, mẹ là giang san”.
Người chiến sĩ Gạc Ma là bất tử:
“Không! Không phải con nằm mà con đứng
Đứng thẳng từ trong sóng dâng, biển dựng”.

Đây là cái nhìn rất mới của Thế Kỷ về sự hy sinh của những chiến sĩ trẻ trong thời @, rất đáng suy ngẫm.

4. Vạch mặt Trung Quốc là kẻ xâm lược biển đảo, gây bao đau thương mất mát cho người Việt Nam

Đây là một trong những chủ đề mà Nguyễn Thế Kỷ tập trung phản ánh, nhằm khẳng định Trung Quốc có truyền thống xâm lược Việt Nam, từ xưa tới nay, với các bài: Cột đồngMã Viện có hay không?, Cái bóng của cột đồng Mã Viện, Giận Tam Sa, Trăm tấm bản đồ, Hải chiến ngày xưa, Bạch Đằng lần sau, Cãi nhau, Có lưỡi phải có đầu, Ngư dân Quảng Ngãi ngoan cường, Nghe vọng Diên Hồng,.…

– Trong bài Ngư dân Quảng Ngãi ngoan cường, Thế Kỷ tố cáo Trung Quốc là thủ phạm đâm chìm tầu cá Việt Nam:

“Tốp đông tàu cá bên Trung Quốc
Vi phạm chủ quyền biển Việt Nam
Ta đuổi chúng đi, không đuổi được
Chúng còn nã súng toại lòng tham
Bắn cháy ca bin tàu Quảng Ngãi
Hải quân Trung Quốc quá hung tàn”.
– Trong bài Giận Tam Sa, tác giả viết:
“Một thành phố Tam Sa ma quái
Hiện hình trên quần đảo Hoàng Sa
… Một thành phố Tam Sa ma quái hiện hình
Ta đã thấy, đã nghe và đã giận
Anh thương binh xóm nghèo vứt nạng
Tôi quì xuống đấy, xin làm chân anh!”
– Trong bài Trăm tấm bản đồ:
“Bản đồ trăm tấm trăm lần vẽ
Một nét “lưỡi bò” một nét không!
Trung Quốc hải phần đến Hải Nam
Nhưng vì hạ thức chất chồng tham
“Lưỡi bò” lưỡi quỷ dài… Ai tạo?
Liếm đến Trường Sa những tục phàm
… Trăm tấm bản đồ ngàn đích chỉ…
Hoàng Sa là Tổ quốc Việt Nam!”

5. Viết về Hải quân Việt Nam 

Trong “Về Tổ”, Nguyễn Thế Kỷ có hẳn 3 bài thơ viết về Hải quân anh hùng, là:  Hải quân ta, Chiều Cam Ranh, Hải quân hiện đại. Qua đó, ta thấy cả bước chuyển về trang bị tầu thuyền của Hải quân, từ thô sơ lên hiện đại. Nếu thập kỷ sáu mươi của thế kỷ trước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, hải quân ta mới có ghe bầu để chuyển vũ khí Bắc – Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển, thì nay, hải quân ta đã được trang bị những con tầu chiến hiện đại; có tàu hộ vệ tên lửa Lý Thái Tổ, Đinh Tiên Hoàng:

“Xưa xuồng tên lửa lừng khừng
Nay trên chiến hạm tưng bừng biển Đông”
không chỉ có tầu nổi, còn có cả tầu ngầm Ki lô hiện đại:
          “Tên lửa, tầu ngầm… đã có nhau
Lính thủy đánh bộ dàn chiến tuyến
Tầng không tiêm kích rít ngang đầu
Hải quân hiện đại ta tiên viễn
Bảo vệ hòa bình biển cạn sâu”.

Lực lượng đặc công nước của Hải quân cũng được Thế Kỷ phản ánh rất rõ nét, với những kỳ tích, tiếp nối truyền thống của danh tướng Yết Kiêu xưa (qua các bài: Yết Kiêu, Binh đoàn thợ lặn):

“Nói đến đặc công nước
Nhớ ngày trước Yết Kiêu
Dẫu sâu cạn bao nhiêu
Anh thảy đều lặn tới
… Ngày đêm anh cũng vậy
Ở nước như ở nhà
Sông gần như biển xa
Gian nguy gì chẳng kể”.

6. Phản ánh tình yêu biển đảo của nhân dân (qua một số tấm gương tiêu biểu…)

– Trong bài Ngư dân Quảng Ngãi ngoan cường, Thế kỷ ca ngợi:
“Bạn chèo anh dũng như Văn Phải
Quang Thạnh trưởng tầu quả thép gang
Chín ngư dân Quảng Ngãi ngoan cường
Giữ nước, giữ trời, giữ hải cương
Giữ lá cờ thiêng liêng Tổ quốc
Đỏ tim mình, xanh ngát trùng dương”

– Bài Góp đá xây Trường Sa, tác giả nêu một số nhân vật tiêu biểu, là Hà Châu – sinh viên sư phạm mở chương trình “Góp đá Trường Sa”, là thương binh Công Hùng “chiến trường xưa còn lại một chân”, là Bà Lan đã tám chục tuổi vẫn “tay nâng đá”, là chị Quý ve chai vẫn tham gia phong trào:

          “Đá góp lòng dân thành trụ núi
          Cắm xuống Trường Sa mốc chủ quyền
          Biển dậy gió giông cùng bão nổi
          Trường Sa muôn thuở mãi còn nguyên”.    
                                           
Với “Về Tổ”, Nguyễn Thế Kỷ đã tạo nên 3 kỷ lục.

Một, Nguyễn Thế Kỷ viết hẳn một tập thơ gần 160 bài về chỉ một chủ đề biển, đảo quê hương. Đây là hiện tượng chưa từng có ở nước ta, đến nay.

Hai, Nguyễn Thế Kỷ viết cả một Bách khoa thư về biển đảo … bằng thơ. Đây là hiện tượng chưa từng có ở nước ta, đến nay.

Hai kỷ lục trên để thách thức những người làm thơ Trẻ. Với Nguyễn Thế Kỷ, người đã bước qua Bát tuần, thuộc người “xưa nay hiếm”, tự thân ông đã lập một kỷ lục thứ ba – Người cao tuổi Việt Nam đầu tiên xác lập hai kỷ lục trên.

Có được như vậy, chỉ có thể: Là một người có tình yêu quê hương, đất nước, đặc biệt là biển, đảo; có lòng tự hào về truyền thống chống ngoại xâm của cha ông; Là người theo rất sát, nắm rất vững tình hình Biển Đông; Là người có vốn sống , sự hiểu biết sâu rộng, nguồn tư liệu dồi dào và đã đi thực tế biển, đảo; Là người có Tài. Bởi có đủ những yếu tố đó, Nguyễn Thế Kỷ mới viết được “Về Tổ”. Chính vì thế “Về Tổ” là tập thơ đích thực, có ích, thật đúng với khẳng định của nhà thơ Thanh Thảo: “Thơ không chỉ đánh thức, thơ còn phải dựng thẳng những hồn người trước phong ba, còn phải là những lời huyết thề từ tâm khảm mỗi con người khi Tổ quốc kêu gọi mình”. “Về Tổ” xứng đáng với vị thế ấy lắm.

Với thơ, Nguyễn Thế Kỷ đã làm được một công việc lớn lao ấy.

Còn về tư cách một con người Việt Nam trước họa xâm lăng của Trung Quốc, liệu chúng ta, ai đã có một giấc mơ như ông Bát tuần Thế Kỷ này không:

“Mơ đêm vậy thực ngày cũng vậy
Trường Sa chiến sĩ nở như hoa
Vui quá! Tưởng ta vừa tỉnh dậy,
Ngỡ ra mình: Anh lính Trường Sa!”.

 

Ts Nguyễn Minh San

Nguồn: http://vanhien.vn

 

Advertisements

Entry filed under: 2- GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỚI.

PHÂN BIỆT THƠ & CA VÈ Chùm thơ Bùi Thị Thương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 343,368 Người

Categories


%d bloggers like this: