Thanh Thảo và Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó”

Tháng Mười 7, 2014 at 6:48 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

thanh thao

Thanh Thảo và Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó”

Tạp chí Thơ số 6-2014 vừa công bố Trường ca “Đám mây hình người thợ săn và con chó” – Trường ca thứ 11 của nhà thơ Thanh Thảo. Đây là Trường ca được Thanh Thảo lấy cảm hứng nhân chuyến thăm cao nguyên đá Đồng Văn (Công viên địa chất toàn cầu vừa được UNESCO công nhận năm 2010), ghé thăm Nghĩa Trang Vị Xuyên (2012). Từ Cao nguyên đá trở về, đang còn lâng lâng với cảm giác do những mẫu hóa thạch của các loài có niên đại 400 đến 600 triệu năm về trước mang lại, bồi hồi với cảm giác khi đứng trước 1.698 ngôi mộ đồng đội ở Vị Xuyên; tác giả lại đón nhận dồn dập nhiều thông tin nóng hổi… Nào là chuyến lưu lạc 7.000 km của chàng trai H’ Mông Vừ Già Pó, nào là chuyện học sinh, giáo viên bản Sam Lang vượt suối đến trường bằng cách chui vào túi ni lông; nào là Trung Quốc cắm giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam… Tất cả đó đã được nhà thơ nối kết rồi bùng nổ thành một trường ca với 689 câu thơ và 2 đoạn tin được kết cấu như một bản giao hưởng hiện đại không phân chương mục, ngập tràn thi hứng. Đứng trên cao nguyên đá ngắm mây bay hay chính những đám mây vô danh lang thang như những linh hồn trong buổi chiều Vị Xuyên nhức nhối? hay chính là bước chân lang thang như mây trời của chàng trai H’Mông Vừ Già Pó? hay những áng mây Tổ quốc bay quanh Hoàng Sa trên vùng biển Đông non nước linh thiêng?… Có lẽ là tất cả để làm nên một kết cấu giao hưởng hiện đại nhiều giọng, nhiều bè mang đậm chất sử thi. Ở “Đám mây hình người thợ săn và con chó” thì Mây là một nhân vật chính. Sự biến đổi của nó chính là sự hóa thân thành các nhân vật. Nhân vật chính “Đám mây” có hình “Người thợ săn” và “Con chó” là bước thiên di của loài người vượt qua Siberie, Hoàng Hà, Trường Giang để dừng chân lại với Đồng Văn. Vì lẽ đó, những nhân vật này trong trường ca không còn là “vân cẩu mòng mòng” mà gắn chặt với ý đồ khai thác nội dung của tác giả. Đó là mối quan hệ giữa Mây và Gió: mây bay như nỗi buồn phiêu dạt khắp trời biết nơi nào dừng/ quê hương mây ở đâu?/ ai xua đuổi mây nếu không là gió/…gió xua đuổi ta nhưng không gió làm sao tabay/ không gió đời ta thành giẻ rách/ chứ đâu phải mây. Mây bay nhờ Gió, và vì vậy, Mây hóa thân thành người H’Mông vừa lãng mạn vừa lẫm liệt, kiên gan: gió làm nên người dân ta trong sạch/ dựng nhà nơi chất ngất/ dưới bóng cây cổ thụ mồ côi/ mải mê cách biệt/ vách nhà khoét lỗ châu mai lẫm liệt/ những cặp mắt sáng trưng/ địu con xuống núi sáo vân vi lừng khừng. Mây lại hóa thân vào trong từng hoa văn trên chiếc váy những thiếu nữ H’Mông xinh đẹp. Khi thêu xong chiếc váy có hoa văn hình đám mây cũng chính là là lúc Mây trụ lại hóa thân thành những người H’Mông vừa tảo tần vừa bay bổng, chọn đất này làm Tổ quốc đầu tiên để hình thành nên văn hóa H’Mông: cô gái thêu một vầng mây trên váy/ thêu một đời tảo tần lên đá/ thêu xanh thẳm điệu kèn/ lên âm u màu đêm/ ba năm xong một chiếc váy/ ba trăm năm xong một chỗ dừng/ ta đám mây ngũ sắc/ thiên di/ ta bầy chim trú rét/ Siberie/ ngậm từng cọng cỏ đỉnh cao/ tìm tổ quốc/ gặp Chuyện “Tranh vân cẩu” trôi nổi giữa bầu trời như một biểu tượng của sự cao nguyên cỗi cằn/ cắm chốt. Chính Việt Nam nhân hậu bao dung đã đón Mây về, sau khi Mây đã vội vã lánh xa vùng đất giá băng, cạm bẫy; những vùng đất tanh tưởi mộng bá quyền: nhưng có thứ còn giá hơn băng tuyết/ kinh hơn cạm bẫy/ những Trường Giang Hoàng Hà đã tới/ sao lòng chua xót khôn nguôi/ chó yêu ơi đánh hơi gì nơi ấy/ mà giục ta mau vội bước dời/ có đàn chim nào ngày lang bạt/ hướng mây băng về phương nam xa xôi. Về với Việt Nam, Mây đã bình tâm dừng lại bên cao nguyên đá, rồi nối rộng vòng tay quê hương từ núi rừng đến biển thẳm xa khơi: Việt Nam/ ta đến với Người nơi chót núi/ ta đến với Người lúc cùng đường/ đá của Người bảo bọc ta/ từng hạt ngô nuôi ta lớn/ Có Tổ quốc rồi, Mây hóa thân thành “con chó Dũng Cảm” để cùng con người bảo vệ nước non: con chó của ta vốn nòi Dũng Cảm/ dắt ta bay qua các vùng trời; thành “Người thợ săn” lấy đá làm đạn, vùng lên, “lăn đá xuống đầu thù”: bác thợ săn niềm vui khốc liệt/ giương súng kíp/ con chó săn đam mê lốc xiết/ ngửi mùi chồn hương/ trời làm cao nguyên đá/ người H’Mông làm khẩu súng này/ khoan nòng/ đá hay đạn ghém/ đỉnh núi cao hay bờ vực hiểm/ đều vũ trang/ đá lăn/ đá lăn/ đá lăn/ lăn đá/ xuống đầu thù. Mây hóa Đá, Đá thành Mây: đám mây người thợ săn và con chó/ lững thững bay trên cao nguyên gió/ Đồng Văn/ mình là mây hay đây là đá/ ta đang bay hay mây đang hạ/ cánh giữa ngút ngàn/ đá. Thiên di như Mây, và Mây lại tiếp tục hóa thân thành chàng trai H’Mông Vừ Già Pó với ý chí kiên cường, lòng yêu nước khôn khuây trên bước đường lưu vong: lang thang năm châu lục/ vẫn là người H’Mông/ có lúc/ Vừ Già Pó là tôi/ từ Mèo Vạc…/ không bay/ cuốc bộ hơn 7000 km. Mây hóa thân thành Vừ Già Pó thì con Chó săn lại hóa thành Con vẹt đã theo chân chàng trai H’Mông qua vạn dặm trường: một con vẹt/ thường ăn ngô trên nương Mèo Vạc/ bay theo tôi/ 7000 km/ trong đêm vượt thác cao đèo dốc/ chân trần/ lướt qua nhiều quốc gia chủng tộc/ con vẹt trò chuyện cùng tôi/ cứ như mình sinh ra là bạn và kiên định một giống nòi, một Tổ quốc mà thôi:“Việt Nam là của tôi!” Vừ Già Pó/ “Tôi là của Việt Nam!” xin đừng hỏi/ tôi đến từ đâu?/ dẫu đất nước tôi toàn đá/ tôi cứ yêu đất nước mình vật vã/…/ Tổ quốc tôi là Việt Nam. Yêu nước, Mây cũng trở trăn cùng vận nước khó khăn ngay giữa thời bình: nhà dựng áp đỉnh núi/ chắc mà chưa xong/ cầu treo chông chênh thác lũ/ rồi mà chưa xong/ con ta chui bao ni lông vượt suối/ qua mà chưa xong/ đám mây người thợ săn và con chó/ nhàu nhò núi lở mưa giông. Trước Nghĩa trang Vị Xuyên, Người thợ săn lại hóa thân thành Vàng Xín Dư – người Xã đội trưởng Tả Ván “ba lần đánh thắng quân Trung Quốc” dù bị lừa vì lựu đạn dỏm (hàng dỏm) do chính “người anh em” viện trợ: lựu đạn chày Trung Quốc/ ném không nổ/ còn lại là súng kíp/ chúng tôi đã ba lần đánh thắng quân Trung Quốc/ khi chúng tràn sang làng bản chúng tôi/ được khen thưởng/ chúng tôi cười/ được phong anh hùng/ chúng tôi vui/ thế thôi. Hòa bình rồi “Con chó Dũng Cảm” lại hóa thân thành “con chó đồn biên phòng” để cùng Người thợ săn Vàng Sín Dư ngao du cho thỏa thích chí tự do vốn có của người H’Mông: Vàng Xín Dư nói với tôi/ ông muốn cưỡi lên đám mây cuối trời/ cùng con chó của đồn biên phòng/ ngao du cao nguyên đá/ có phút giây không mua được bằng tiền/ không đổi được bằng vòng vàng hay quần áo đẹp/ có niềm vui phấn khích như sương/ có cú bay/ chói ngời hạnh phúc/ có đám mây/ đẫm màu mơ ước. Mây ẩn mình trong gió, biến hình vào hơi thở lứa đôi trong những phiên chợ tình hòa bình như một nét văn hóa tiêu biểu của người H’Mông: đám mây người thợ săn và con chó/ cài đỉnh gió/ chờ trăng/ ta đang biến hình thở sâu nghĩ ngợi/ phiên chợ chưa tàn. Nhưng bọn giặc đã bị Vàng Xín Dư và đồng đội đánh tan tác ở cao nguyên đá đang hăm he chiếm giữ biển Đông. Những Người thợ săn, Những con chó trận, những Vàng Xín Dư lại hướng về với biển: lũ giặc từng tràn qua cao nguyên đá/ giờ lại lấn xâm biển cả/ chó ta ơi, hãy đánh hơi lần nữa/ nhận đúng mùi tanh tưởi kẻ thù xưa/… /xin hãy nhận chúng tôi hỡi những người lính biển/ lão thợ săn và con chó trung thành/ súng kíp của ta dù thô sơ cũ kỹ/ chưa bao giờ bắn chệch hồng tâm. Có thể nói, lấy Đám mây làm nhân vật chính để từ đó biến hóa thành những dạng nhân vật đa dạng và phong phú là thành công của Thanh Thảo. Dù sự biến hóa cứ như “vân cẩu mòng mòng” ấy, nhưng trường ca vẫn không bung ra khỏi cấu trúc bởi sự hợp lý trong nối kết giữa thời gian quá khứ, thời gian hiện tại và cả phía tương lai, các nhân vật xuất hiện trong trường ca dù là gió, là mây trên trời hay những con người thực trên cao nguyên đá; dù lãng đãng như Mây hay gan lì như Đá vẫn đọng lại những câu thơ đầy xúc cảm: nắm xôi tím nước mắt em cay xé/ đưa ta qua biết mấy thăng trầm/ trên đám mây cuối ngày lặng lẽ/ con chó và ta tóc xõa mưa dầm/ chúng ta bay lang thang tìm hạnh phúc/ có ngờ đâu hạnh phúc lại quá gần/ nắm xôi tím mái đầu giờ bạc trắng/ vẫn như xưa thơm từng ngón tay cầm. Nếu Trường ca Chân đất (2012) được Thanh Thảo cấu trúc theo kiểu “vòng tròn đồng tâm” thì “Đám mây hình người thợ săn và con chó” là kiểu cấu trúc đồng hiện, lấy Đất và Trời làm trục, mà cụ thể ở đây là xoay quanh trục chính giữa Đá và Mây (Tôi đã thống kê sơ bộ có đến 39 từ Mây và 65 từ Đá xuất hiện trong trường ca). Cho nên, dù có liên tục biến đổi, thay vai nhân vật thì tất cả đó cũng chỉ là những nhân vật phái sinh từ “Đám mây” kia. Cấu trúc trường ca theo một trường liên tưởng xuất phát từ mạch tư tưởng cảm xúc của chính tác giả trường ca, vì thế, “Đám mây hình người thợ săn và con chó” cứ tự do bay, tự do biến mà không một trường đoạn nào văng ra khỏi chuỗi cấu trúc. Một điều cần chú ý về nghệ thuật chính là sự kết hợp khá nhuần nhuyễn các thể thơ truyền thống và sự xuất hiện các yếu tố Hậu hiện đại trong trường ca này. Đó là những câu Lục bát biến thể rất tự nhiên: rừng xa nhạc ngựa tái tê/ em mơ đá nở đầy khe hoa vàng/ Vừ Già Pó về Mèo Vạc/ lang thang cuối đất cùng trời/ quê mình cứ vẫn thế thôi quê mình; những khổ thơ Bảy chữ thiết tha: chúng mình đi chợ tình anh ạ/ chợ tình như đất nước thật thà/ cao nguyên đá làm sao hết đá/ tình yêu thành núi mọc trong ta… Yếu tố hậu hiện đại xuất hiện rõ nét ở những liên văn bản và sự trộn lẫn các loại hình vănhọc nghệ thuật khác nhau. Tôi hân hạnh được đọc trường ca mày qua bản mail của tác giả trước khi in trên tạp chí Thơ. Tại bản gốc này (mà bản in Tạp chí Thơ không in), Thanh Thảo cho in cả hình Vừ Già Pó và Con vẹt kèm theo, hình Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên, hình ảnh chui bao ni lông lội sông đi học cùng hai đường links (https://www.youtube.com/watch?v=2rzhToA0R78 để nghe bài hát “Sông Lô chiều cuối năm” của Minh Quang khi đứng trước Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên và https://www.youtube.com/watch?v=l4X6IJUN8DA để nghe “Bài ca trên núi” của Nguyễn Văn Thương” khi đứng giữa cao nguyên đá). Như vậy, từ sự xuất hiện của văn xuôi Tô Hoài, những mẫu tin trên báo (văn hóa đọc) đến âm nhạc Nguyễn Văn Thương, Minh Quang (văn hóa nghe), từ các hình ảnh đăng kèm (văn hóa nhìn) đến các đường links dẫn (văn hóa mạng), “Đám mây hình người thợ săn và con chó” đã mang lại những hiệu ứng tích cực để người đọc đương đại đến với Trường ca một cách tự nhiên hơn. Và tất nhiên, sẽ còn rất nhiều người khám phá ra những điều thú vị khác ở Trường ca này.

Mai Bá Ấn

Nguồn: Bichkhe.org

Advertisements

Entry filed under: 3- NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH, MAI BÁ ẤN.

Kết quả cuộc thi ảnh Nghệ thuật lần thứ IV Điều kiện xét tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh, “Giải thưởng Nhà nước” về văn học, nghệ thuật

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 362,434 Người

Chuyên mục


%d bloggers like this: