Tuỳ bút: “Lang thang qua chiến tranh” – Thanh Thảo

Tháng Hai 26, 2014 at 7:06 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

chien tranh

Tuỳ bút: “Lang thang qua chiến tranh” 

VanVN.Net – Bây giờ, tôi mới tự hiểu, vì sao cũng trải qua chiến tranh, cũng ở chiến trường 5 năm như nhiều người khác, mà tôi tuyệt đối không nhận được bất cứ một sự khen thưởng nào, dù đó là huân chương, huy chương, thậm chí bằng khen. Bây giờ, tôi mới hiểu, thì ra, mình chỉ là kẻ lang thang qua chiến tranh.

Không ai thưởng huân chương cho kẻ lang thang cả.

Nhưng vì sao tôi quyết định mình là kẻ lang thang qua những nơi không hề dành cho kẻ lang thang?

Điều này do Thơ quyết định.

Là một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học Tổng hợp Văn, có tập tọng làm những bài thơ đầu tay, đã có dăm bài thơ được đăng báo, lúc bấy giờ tôi chỉ nuôi một ước mơ duy nhất: được đi chiến trường, được trải nghiệm chiến tranh, và… làm thơ.

Kể ra, đó cũng không phải ước mơ gì quá cao xa. Hàng triệu thanh niên như tôi đã đi chiến trường trong những năm tháng ấy. Biết đâu, trong số hàng triệu người này, cũng có những người nuôi ước mơ đi chiến trường để… làm thơ, như tôi. Một ước mơ khá phù phiếm, phải không ạ? Khác với em Huyền Chíp bây giờ, sau khi đã quyết định “phượt xuyên quốc gia”, bèn “Xách ba lô lên và đi”, đi một lèo qua mấy chục quốc gia, qua mấy châu lục luôn! Còn hồi ấy, tôi chỉ đi trên Trường Sơn thôi, đi bộ thôi, đi từ Bắc vào Nam, có nhiều đoạn qua rừng Lào và rừng Cămpuchia. Thời gian “xách ba lô lên và đi” cũng chỉ khoảng 3 tới 4 tháng, nếu không bị sốt rét phải nằm lại dọc đường. Có thể cái quyết định “xách ba lô” diễn ra rất nhanh, nhưng để xách được ba lô lên và đi, thì lại không hề dễ dàng.

Trước hết, phải được cấp trên cho phép.

Không cấp trên nào, dù ưu ái với anh tới đâu, lại thuận tình “cấp phép” cho anh đi lang thang vào chiến trường chỉ để… làm thơ, trong khi anh chưa phải là nhà thơ được công nhận. Muốn vào chiến trường, phải đi làm một công việc gì đó cụ thể. Có thể làm lính trận, mười chết một sống. Có thể làm lính phục vụ chiến trường, cũng đầy gian nan chết chóc. Có thể làm các công việc khác mà cuộc chiến đấu đang cần, nhưng phải có kỹ năng, ngoài nhiệt tình công dân. Tôi, muốn lang thang qua chiến trường để làm thơ, thì phải làm một “chân” gì đó. Tôi chọn nghề báo, là nghề tuy tôi chưa được đào tạo chuyên môn ngày nào, nhưng là nghề gần sát nhất với những gì tôi đã học trong trường, gần nhất với văn chương, viết lách, chữ nghĩa. Muốn cho chắc ăn, tôi đã chọn làm nghề báo trong môi trường quân đội. Tôi xin nhập ngũ. Nhiều thầy giáo và bạn bè của tôi ở trường nghe tin tôi xin đi bộ đội, đã ngạc nhiên. Vì họ biết, tôi học không đến nỗi nào. Lại con một, con gia đình cách mạng. Khi tôi ra trường, đã có nhiều cơ quan đặt vấn đề xin tôi về làm việc, kể cả khoa Văn là nơi tôi theo học. Nhưng tôi chỉ thích đi bộ đội, “bộ đội quốc doanh” hẳn hoi, chứ không phải “bộ đội tư nhân” như bây giờ. Dĩ nhiên, tôi giấu biến ước mơ đi bộ đội để được… lang thang vào chiến trường, và… làm thơ. Không phải sợ mọi người cười, vì hồi ấy, không ai cười một ước mơ, một nguyện vọng như vậy, dù có thể chưa thật hiểu. Ngay thầy má tôi cũng không biết tại sao tôi xin nhập ngũ, trong khi có khối việc để làm, dù họ đều coi chuyện đi bộ đội hồi ấy là chuyện bình thường.

Không một ai ngăn cản tôi vào bộ đội.

Còn nhớ, tôi mắt kém, nên khi khám thủ tục để nhập ngũ, tôi phải nhờ bạn học của tôi là Hồ Khánh Thiện (cùng họ Hồ) “đóng thế”. Trót lọt dễ dàng. Có lẽ ở miền Bắc lúc ấy, đi bộ đội còn dễ hơn… ăn chuối. Không những tôi thành bộ đội rất nhanh, mà còn nhanh chóng thành… sĩ quan. Chuẩn úy. Lương 54 đồng. Theo đúng quy định của nhà nước về sinh viên tốt nghiệp đại học và đã qua huấn luyện sĩ quan dự bị.

Tôi được biên chế thẳng vào phòng Phát thanh Binh vận trực thuộc ban Binh vận Tổng cục Chính trị. Nhiệm vụ chính là viết bài cho buổi phát thanh binh vận dành cho sĩ quan và binh lính quân đội Sài Gòn. Một việc hoàn toàn không dính gì với ước mơ làm thơ của tôi cả. Nhưng tôi chấp nhận, dù biết đây là cửa rất hẹp. Nhưng ở cửa hẹp này, tôi sẽ có cơ hội đi chiến trường.

Các anh ở phòng Phát thanh Binh vận đón tiếp tôi khá niềm nở, sẵn sàng chỉ bảo, giúp đỡ, kể cả răn dạy cho tôi nên người. Và tôi đã chứng tỏ mình không phụ công lao hướng đạo của họ. Khá nhanh chóng, tôi tiếp cận lĩnh vực tuyên truyền còn hoàn toàn xa lạ này, và đã viết ngay được những bài báo đầu tiên. Được ban biên tập khen, thậm chí, đánh giá cao. Tôi bắt đầu chuẩn bị cho mơ ước lang thang qua chiến tranh của mình bằng một nghề rất chỉn chu, bài bản, lý trí, thậm chí đầy quan điểm lập trường, đó là nghề báo. Nhưng, nghề báo cũng chính là nghề đầy mạo hiểm, thậm chí nguy hiểm, nhất là làm báo trong chiến tranh. Tôi hiểu điều này, và cho rằng mình đã lựa chọn đúng “bệ phóng” để… lang thang vào chiến trường.

Quả thật, chỉ sau đúng một năm hành nghề báo binh vận tại Hà Nội, tôi chính thức được cấp trên cử đi chiến trường. Chiến trường B2-Nam Bộ hẳn hoi, theo đúng nguyện vọng cá nhân của tôi.

Với những sĩ quan hay cán bộ dân sự trước khi đi chiến trường đều phải trải qua một thời gian luyện tập nhất định ở “trường”. Luyện tập khá gian khổ, và tương đối gần giống với thực tế chiến trường. Còn tôi, do ở cơ quan chỉ mỗi mình tôi đi chiến trường, nên các anh nói tôi cứ… tự tập. Muốn tập kiểu gì cũng được. Như thế, khởi đầu đã tự do rồi. Tôi bèn mang ba lô gạch đi lang thang qua các con phố ở Hà Nội. Khi qua một quán bia hơi, nếu thấy ít người xếp hàng, tôi lại ghé vào làm vài cốc lấy… khí thế. Bia hơi ba hào/cốc, ngon hơn bia “ken” bây giờ nhiều. Sau đó, lại hăm hở đeo ba lô gạch… hành quân. Lúc bấy giờ, nhiều bạn tôi đang tập trung ở Quảng Bá – Trại sáng tác của Hội Nhà văn – cũng học tập và rèn luyện chờ ngày đi chiến trường. Có hôm, tôi mang ba lô gạch đi bộ lên tận Quảng Bá, vào thẳng lớp học của các nhà văn tương lai. Các nhà văn bạn tôi nhìn tôi -quân phục thứ thiệt, ba lô gạch thứ thiệt, sắp đi chiến trường B2 thứ thiệt – nhìn một cách “hơi bị ngưỡng mộ”. Tôi bèn hô hào mọi người đi… uống bia hơi. Vẫn ba lô gạch trên vai, hành quân ra quán bia hơi cách trường vài cây số. Tôi đã tự tập luyện như vậy. Gần ngày đi chiến trường, tôi được thủ trưởng cho ngồi cùng xe U-oát chở lên “Trường 105” Hòa Bình – được mệnh danh là “Trường biệt kích… Việt Cộng” – để… liên hoan với học viên ở đây. Những người tôi sẽ đi chiến trường cùng họ. Có dành vài giờ đồng hồ tập bắn súng K54, bắn đạn thật. Tôi bắn cũng được, hai vòng 7 một vòng 8, đạt loại khá. Còn mong gì hơn nữa.

“Ta ca ngợi các ngươi, sự trong sáng dại khờ và sự trong sáng không dại khờ. Ta ca ngợi mùi lá cây sau mưa, những vũng nước trên đường, bàn tay nâng đỡ ta và bàn tay vùi dập ta. Ta tồn lại, lớn lên nhờ các lực đối lập. Một đứa trẻ sống trong chiều chuộng sẽ trở nên yếu đuối hoặc ích kỷ. Một đứa trẻ sống trong hắt hủi sẽ dễ đa nghi, đối phó, tâm hồn luôn dằn vặt, căng thẳng. Cảm ơn các ngươi, những lực đối lập đã gây dựng đời ta.” (trích “Nhật ký viết sau”)

 

Tôi không nghĩ 5 năm lang thang ở chiến trường, lang thang qua chiến tranh của mình là hoàn toàn suôn sẻ. Nhưng thực lòng tôi khải ngộ Ơn Trên, và cảm ơn số phận đã giúp cho cuộc lang thang nhiều năm của mình thành tựu. Tôi đã có cơ hội nhìn rõ khuôn mặt chiến tranh, đã đi được khá nhiều đường rừng đường đất và đường nước, đã từng nhịn đói 3 ngày do tắc đường ở Đồng Tháp Mười, đã núp trong bụi cây ở một trảng cỏ thuộc đất Cămphuchia và nhìn rất rõ một gã lính Mỹ cởi trần, ngực đỏ như ức gà chọi, đứng bên cửa trực thăng và rà khẩu đại liên Mã Lai, cứ như gã đã phát hiện thấy cái gì. Chẳng có gì, trừ một kẻ lang thang là tôi không muốn trở thành con mồi “chuyển động hay bất động” để ăn đạn. Những tình huống trong chiến tranh với tôi cứ như tình cờ, và tôi cũng không có kỹ năng gì để xử lý nó. Tôi nhớ có lần nhóm công tác chúng tôi len lách giữa vùng ven sát lộ 4 do đối phương kiểm soát, trưởng nhóm Tám Hùng đã nhắc tôi: “Công (tên tôi), lên đạn đi!” Tôi vội vàng lên đạn khẩu K54, mở chốt an toàn, nhưng cũng không có cảm giác gì rõ rệt là mình sẽ gặp nguy hiểm. Quả thật, đã không có nguy hiểm ở lần đó. Nhiều lần khác cũng vậy. Và tôi chợt nhớ đến nhân vật Pierre Bezukhov trong “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoi. Anh chàng này, cận thị nặng, đi lơ ngơ giữa chiến trường Borodino đầy chết chóc mà…không sao cả. Đi như người mộng du giữa hai bờ chiến tuyến mà không hề hấn gì thì thật lạ! Tôi, dĩ nhiên, không phải là nhân vật của Lev vĩ đại, cũng không đến nỗi đi lơ ngơ giữa hai bờ chiến tuyến, nhưng đúng là không bị chút thương tích gì thì thật ơn Trời Phật! Có lần, tôi một mình ăn mặc giống như một thanh niên địa phương, “đi phượt” từ lộ Bốn Cai Lậy ra cù lao Ngũ Hiệp. Phải đi xuồng máy trên sông Tiền mênh mang có nhiều tàu tuần tiễu của đối phương thường xuyên khống chế, tôi lận lưng khẩu K54 mà tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ có lúc sử dụng, đội nón lá và mặc áo sơ-mi may bằng vải “pô-ly”, giống như một trai làng bình thường của vùng Cai Lậy. Chuyến ấy tôi đi rất trót lọt, nhưng ra tới cù lao Ngũ Hiệp, vào buổi tối ở đây đã xảy ra trận tao ngộ chiến giữa một nhóm du kích và quân biệt kích Sài Gòn. Ba chiến sĩ du kích đã hy sinh trên một cồn (đảo) có 6000 dân và tương đối yên bình cho đến lúc ấy, là một sự kiện lớn. Tôi đã vô tình chứng kiến sự kiện đau buồn này, và sau đó viết được bài thơ “Đêm trên cồn”. Đây có lẽ là một trong những bài thơ đậm không khí chiến tranh trực tiếp nhất của tôi. Dĩ nhiên, tôi lang thang qua chiến tranh, nhưng không hề là người vô cảm. Thậm chí, với vị trí đặc biệt này, tôi còn nhiều cảm xúc hơn là nếu tự mình tham gia vào cuộc chiến như một người lính thực thụ.

 

Đêm trên cồn

 

Tiếng súng nổ chát tai ngoài ấp Tân Sơn

Chúng tôi nghe đứng ngồi như lửa đốt

Đó là giờ tụi ác ôn bung ra lùng sục

Và các đồng chí mình về bám đất bám dân

 

Cồn đất hình hột xoài lênh đênh trên sông

Chở khẳm hơn sáu ngàn số phận

Sóng lưỡi búa quằn trong đêm nước lớn

Tàu giặc thả trôi lờ lững, chập chờn…

 

Con tôm co mình dưới hũng rêu trơn

Con đom đóm vặn nhỏ đèn, đi ngủ

Đám lá về khuya hun hút gió…

 

Còn những bóng xuồng len lỏi men sông

Những mái chèo khuấy trầm, ngược nước

Ngày mai cồn đất phải về đâu

Trán người lái xuồng mồ hôi đổ hột

 

Bót chợ giữa cồn chốc chốc bắn vu vơ

Lũ ác đêm nay đứa nào ngủ được

Cuộc vật lộn đang ở hồi gay gắt

Nghe sông Tiền dồn dập thở trong đêm

Hiện ngang trời những ngôi sao sáng quắc

Soi lượn sóng như cánh tay trần cuồn

cuộn xoắn lên

 

Những đốm nhang trên bàn thờ không chớp

Cháy đỏ mắt một niềm dò hỏi đêm sâu

Ngày mai cồn đất phải về đâu ?

 

Khuya ấy chúng tôi chở vô địa hình xác

ba đồng chí

Trong cuộc chạm súng đầu hôm ngã

xuống ở mũi cồn

Tưởng chưa đêm nào gió lồng ghê gớm thế

Đám lá đã dạn dày cứ giật thắt từng cơn

 

Thôi các anh nằm cho chúng tôi vuốt mắt

Mình sẽ thức bên nhau tới lúc bật ánh ngày

Sống cồn đất, chết chôn trên cồn đất

Ôi làm sao bỏ được nơi này !

 

Làm sao bỏ hơn sáu ngàn số phận

Với những rào gai nghẹn quấn thân người

Làm sao bỏ những bãi bần sóng lấn

Còn chập chờn bóng tàu giặc thả trôi

 

Làm sao bỏ mẹ già kiếm mồ con thất thểu

Ngồi tựa dưới gốc dừa gió xõa trắng màu tang

Hốc mắt khô hai mươi năm cồn đất

Lục bình trôi những kiếp sống lỡ làng

 

Làm sao bỏ cháu ta vừa biết lật

Tai đã phải nghe tanh tưởi những giọng cười

Lũ “bình định” nhậu bên xác người chúng giết

Bầy quạ đen kêu rợn tối ba mươi

 

… Gà gáy canh tư

Sắp tới giờ tụi chi khu nã pháo

Cả chúng tôi không ai nói một lời

Phút im lặng tụ giữa quầng mắt bão

Thấy cồn đất rùng lên băng về hướng mặt trời.

1973

 

Là kẻ lang thang, tôi vẫn là Việt Cộng thứ thiệt, người kháng chiến cũ thứ thiệt. Rõ ràng như vậy, không ba chỉ, ba rọi gì hết. “Đừng mong tôi đốt những cánh rừng/ Tôi đã từng qua…” (Chim Trắng). Tôi coi hai câu thơ của nhà thơ Chim Trắng, bạn tôi, cũng là xác quyết của đời tôi: không bao giờ phản bội lại lý tưởng của mình. Dù mình vẫn là kẻ lang thang qua những cánh rừng của tự do, và không chấp nhận bất cứ một sự trói buộc nô lệ nào.

Trong chiến tranh, vẫn có những khoảng rỗng dành cho kẻ lang thang. Khi đi xuống chiến trường Mỹ Tho, tôi đã phát hiện, ngoài mình ra, vẫn còn những gã lang thang khác nữa. Có lần, tình cờ tôi gặp một người lính lạc đơn vị tên là Dũng, dân Hà Nội. Tôi đưa Dũng vào một đám nhậu gồm hầu hết là những tay lang bạt, du kích có, dân chạy càn có, và cả những anh ham vui muốn đàn đúm với bạn bè bên chén rượu. Chúng tôi làm quen nhau rất nhanh, ăn nhậu rất nhiệt tình, khai tên nào là chú ba anh bốn thằng bảy cậu út… Tan cuộc nhậu, tôi đưa Dũng về nhà anh sáu Như là nhà ruột của tôi để ngủ. Sáng sớm hôm sau, trước khi Dũng lên đường đi phượt những đâu đâu, tôi cởi chiếc áo sơ mi mới keng mà Tám Hùng vừa cho tôi, tặng Dũng. Do áo cậu ta rách quá. Nhìn Dũng vác khẩu AK, mặc áo mới tôi cho, lên đường và mất hút vào rặng trâm bầu mờ mịt sương mù, tôi chợt cảm khái, cứ như mình vừa tiễn Kinh Kha qua sông Dịch vậy. Dũng nói đi tìm đơn vị. Nhưng tôi biết, cậu ta không dễ gì tìm được đơn vị cũ của mình. Cậu ta sẽ đi lang thang như vậy, gặp “quân mình” đâu thì tấp vào đó, có khi được thu nhận như lính đi lạc, có khi tấp vào rồi lại phượt tiếp. Tôi sướng hơn Dũng vì dù sao còn có đơn vị, chỉ lang thang đâu đó rồi lại về với anh em, chứ Dũng thì đúng là lang thang mù mịt.

 

Dũng

 

Dũng xắn quần, lộ hai bắp chân teo cơ

Mấy tháng thiếu rau xanh phải ăn toàn đọt choại

Nhớ giọng nói trầm trầm. Đêm ấy

Dũng vượt lộ dùi qua, dây trái máng ngang đầu

 

Có thể suốt đời chỉ đêm ấy gặp nhau

Dũng nói không quên tôi. Còn tôi, tôi nhớ Dũng

Nào phải giữa chúng mình đã căng đầy kỷ niệm

Nhưng ta không nhìn nhau như kẻ qua đường

 

Hai đứa chia tay lúc rạng đông mù sương

Khỏi bờ trâm bầu đã khuất hình dáng bạn

Chiếc áo phai màu Dũng đưa tôi mặc tạm

Chợt nồng mùi mồ hôi đêm quen thân

 

Mùi mồ hôi của người lính đồng bằng

Trộn lẫn mùi bùn mùi cỏ

Chợt lúc nào không nhớ rõ

Thấm vào đời tôi, nồng ngái, chua chua.

1973

 

Sau giải phóng, tôi quen và chơi thân với một anh bạn nhà văn nguyên là lính sư đoàn 2 – Khu Năm. Anh này cũng đã từng đi lang thang tự do như vậy từ vùng núi này tới vùng rừng khác, và đã bị nghi oan là muốn đào ngũ. Nhưng không phải. Anh ta chỉ lang thang vậy thôi, bây giờ gọi là đi phượt. Nhưng hình như, đi phượt trong chiến tranh khác với đi phượt trong hòa bình nhiều lắm. Không những nguy hiểm, mà còn rất dễ bị nghi ngờ. Nhưng vẫn có người đi. Lúc ở chiến trường Mỹ Tho, tôi đã gặp không chỉ Dũng, mà còn vài anh bạn khác cũng “lang thang cơ nhỡ” như vậy. Họ vẫn mang súng AK, đủ cơ số đạn, và… đi. Nếu gặp em Huyền Chíp như bây giờ, có lẽ họ sẽ phấn khởi và đi tới… châu Phi luôn. Con người thật thú vị, và luôn luôn là một bất ngờ.

Nếu ai đó cắc cớ hỏi tôi: anh đã lập được công tích gì trong chiến tranh? Tôi sẽ trả lời ngay, không do dự: tôi đã “bắt sống” được một con lươn thật là to, bằng tay không, ngay giữa Đồng Tháp Mười. Con lươn ấy lập tức được tổ công tác của tôi nướng lên, và thành thức ăn tuyệt ngon cho bữa trưa của cả tổ. Đủ biết, con lươn ấy bự như thế nào! Làm sao tôi bắt được con lươn lớn như thế, chính tôi cũng không biết. Nhưng đúng là lúc đó, tôi đã thụ đắc cho mình kỹ năng bắt cá bằng tay không, và cũng đã bắt được khá nhiều cá rô, cá sặt. Nhưng lươn thì quả là lần đầu tiên.

 

Đồng Tháp Mười

 

bàn tay mùa mưa nằng nặng

trĩu vai tôi

bập bõm trong sương

những cây tràm lội về rạng đông

chiếc xuồng dáng tôi

trôi vô tận

bông điên điển nụ cười vàng ngái ngủ

con cá rô tớp bóng mặt trời

còn tôi ngấu nghiến nhai

một vùng sũng nước

 

Đồng Tháp nén lặng im

tôi chợt xốp

hút mênh mang

những cái nhìn ngơ ngơ của cỏ

những viền sóng cá

bầu trời xanh phát sợ

 

bấy giờ bám xuồng giao liên

nhưng hồn tôi lạc

trên một bông điên điển

luồn lách qua những cú đớp

lách chách

trôi nhung nhăng

 

che chở tôi những cỏ năn cỏ lác cỏ bàng

he hé mắt liếc bầu trời thảm họa

vô tư đi tôi vô tư đi cỏ

chúng mình là anh em

cùng hiến thân cho đêm tù mù không

trực thăng

cùng ngủ vùi mơ về nhà mình

cha mẹ cỏ ở đâu

cha mẹ tôi thăm thẳm

 

chúng mình không lợi dụng ai chẳng muốn ai lợi dụng

 

cỏ ngai ngái mùi thôn nữ

cỏ thức lăn tăn những miền thân thể

từ lâu ngủ quên

 

cỏ cồn cào giấc mơ tái sinh

những đám lửa đốt đồng.

 

Tôi đã đi qua Đồng Tháp Mười. Mất đúng một tháng rưỡi. Đi xuồng và lội nước. Đó là khoảng thời gian bây giờ người ta có thể đi mấy chục vòng Đồng Tháp để nghiên cứu hay du lịch. Còn tôi, chỉ đơn giản là phải đi qua Đồng Tháp để xuống được chiến trường Mỹ Tho. Thời gian hành trình dài như vậy vì nhiều đêm “Đi nửa đêm lại về chỗ cũ”, do tắc đường. Phải chờ đến đêm hôm sau, lại đi. Nếu đường bị tắc, lại quay về chỗ cũ. Cứ thế. Tôi nhớ những đồng sen bát ngát ở Tháp Mười, xuồng chúng tôi bơi suốt mấy giờ liền trong hương sen vấn vít. Bây giờ, bạn có là tỉ phú cũng không bao giờ được hưởng cái cảm giác kỳ lạ của chúng tôi hồi ấy, khi bơi xuồng gần như trắng đêm trong đồng sen mùa nước nổi. Nếu không tự nguyện làm kẻ lang thang, làm sao tôi hưởng được những cảm giác chỉ đến một lần trong đời như vậy? Vì đơn giản, khi từ Mỹ Tho về căn cứ trên R qua Đồng Tháp Mười, thì lúc ấy đã mùa khô, Đồng Tháp cạn nước. Sen cũng đã tàn. Chỉ còn những đám lửa và khói đốt đồng.

 

Đồng cỏ cháy

 

Những đám lửa chạy điên cuồng trên đồng cỏ

Như bầy ngựa bất kham

Gió nồng khét xoáy từng hồi ngột thở

Màu lửa liếm chập chờn trưa nắng lóa

 

Những mảng đen biến đổi dưới ráng chiều

Khói mù mịt. Lửa chuyển ngầm trong khói

Đã tới lúc không còn che đậy nữa

Đất mở trần ra rát rạt thịt da mình

 

Đêm trào lên. Đồng cỏ chợt trang nghiêm

Những ngôi sao đỏ lừ như bắt lửa

Đất quằn quại giữa cơn đau tự hóa

Để thành một ngôi sao bùng cháy hết mình

 

Rạng đông. Nghe đồng đất thở yên lành

Như giấc ngủ rất xanh người con gái

Làn khói mỏng thơm thơm mùi cỏ cháy

Gợi một khoảng trời thương nhớ phía xa kia.

1974 

 

Lão nhà văn Tô Hoài có lần nhận xét, thơ tôi giống như nhật ký được viết bằng thơ. Đúng như vậy. Tôi lang thang. Và thơ tôi ghi lại những khoảnh khắc trong cuộc lang thang kéo dài ấy. Từ Trường Sơn tới Đồng Tháp. Từ “Gặp Lá cơm nếp” tới “Một người lính nói về thế hệ mình” – bài thơ dài đã làm khổ tôi không ít, nhưng cũng khiến tôi hạnh phúc tới tận bây giờ, dù tôi chỉ dám Thử nói về hạnh phúc chứ không dám nói, thật ra, hạnh phúc là thế nào. Trước tôi, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã có Bài thơ về hạnh phúc rất nổi tiếng. Nhưng thật ra, bài thơ ấy của anh Quốc viết về nỗi bất hạnh của vợ chồng anh, và của cả dân tộc này trong chiến tranh, chứ không phải niềm hạnh phúc bình thường như bây giờ chúng ta thỉnh thoảng có dịp trải nghiệm. Ở một đất nước mà niềm hạnh phúc nhỏ nhoi nhiều khi là vô giá như ở Việt Nam, thì “hạnh phúc là gì?” vẫn là “câu hỏi chưa bao giờ nguôi được”.

 Thanh Thảo

(*) Dây trái: Dây lựu đạn gài cố định

 

(Nguồn: Văn nghệ số 7/2014)

 

Advertisements

Entry filed under: THANH THẢO.

CHẢY TRONG TIM ĐỪNG GIẬN ANH!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 362,434 Người

Chuyên mục


%d bloggers like this: