Nhà thơ Hơ Vê (Ngarivê)

Tháng Mười Hai 17, 2012 at 1:43 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

images289551_hove

Hơ Vê

 Thương lắm – nhớ nhiều

  

Em yêu anh,

Như con chim vơ-ling yêu rừng.

Em thương anh,

Như con cá ra-tang thương nước.

Em nhớ anh,

Cứ nhấp nha nhấp nhổm,

Như con kiến cắn tim,

Như lửa đốt trong bụng,

Muốn thấy ngay cái miệng,

Muốn cầm ngay cái tay,

Muốn đi bên anh như đôi chim cùng bay.

 

Ơ! Em nhớ đầy cả ngày

Em thương sáng cả đêm

Nhiều như cái sao cái lá

Cao như cái núi cái đèo

Em đếm từng tiếng tim đập

– Con tim đập nặng nề

Em đếm từng cái nháy mắt

Mắt nháy nhiều như sao

 

Ơ! Thương lắm, nhớ nhiều

Nhớ thương đầy cả đêm

Nhớ thương sáng cả ngày

Như con chim vơ-ling

Như con cá ra-tang…

                                    1994

 

TÁC PHẨM VÀ DƯ LUẬN VỀ NHÀ THƠ HƠ VÊ:

Nhà thơ Hơ Vê như cánh chim tìm về cội nguồn

 

(QNg) – Nhà thơ Hơ Vê (Ngarivê) sinh ra tại một làng nơi rẻo cao xã Sơn Tân (Sơn Tây). Năm 1954 lúc cô bé Hơ Vê người dân tộc K’Yong mới 9 tuổi, đã phải tạm xa nhà, xa người thân ra miền Bắc để học “cái chữ” tại Trường Dân tộc Trung ương (Hà Nội).

Năm 1968 chị tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, được phân công về giảng dạy tại Trường phổ thông cơ sở huyện Lạc Thuỷ (Hoà Bình). Sau giải phóng (1976) chị được chuyển công tác về tỉnh Nghĩa Bình (cũ), tiếp tục làm công tác giảng dạy và quản lý tại các trường cấp III Nghĩa Minh, Trường Sư phạm miền núi (Nghĩa Bình), Trường Trung học Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Quảng Ngãi… Nay chị đã nghỉ hưu. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam – Uỷ viên BCH (khoá II), hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ngãi – Uỷ viên BCH (khoá II, khoá III), Chi hội trưởng Chi hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi.

Chị đã viết khá nhiều tác phẩm, nhiều thể loại: Truyện ngắn, bút ký, thơ… Tập thơ đầu tay của chị: “Đoá hoa rừng” (giải B Hội Nhà văn Việt Nam), đã xuất bản một số tập thơ: “Tất cả cho anh”, “Plây em mùa xuân” (NXB Văn hóa Dân tộc), “Khát vọng” (NXB Đà Nẵng), “Truyện cổ K’yong” (NXB Kim Đồng), chuẩn bị xuất bản tập thơ “Núi Adinh”, tập truyện và ký… Hiện chị đang hoàn thành bản thảo: Văn hóa dân gian Hrê – Ba Tơ, Văn hoá dân gian Cor – Trà Bồng, Văn hoá dân gian K’yong – Sơn Tây, tập thơ song ngữ Hrê – Việt… và chị đã viết, khai thác, sưu tầm khá nhiều loại hình văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi.
Hơ Vê là một nhà văn, nhà thơ nữ người dân tộc thiểu số luôn hướng về cội nguồn.
Hy Hương


Nhà thơ Hơ Vê– người giữ lửa cho dân tộc Hrê.

 Có thể nói chị là người phụ nữ thành đạt của dân tộc Hrê hiện nay: Từng làm hiệu trưởng của Trường THPT nội trú dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, được giải thưởng của Uỷ ban Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật toàn quốc, là uỷ viên Ban Chấp hành Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (khoá 2)… song mối bận tâm hiện nay của người phụ nữ 57 tuổi này lại là làm sao để giữ được cái gốc văn hoá của dân Hrê.
Văn hoá là sự kết tụ những tinh hoa qua ngàn đời của mỗi dân tộc, song nếu “phá” thì nhanh lắm. Tôi là người Hrê, được may mắn đào tạo và trưởng thành ở miền Bắc, được tiếp xúc với nhiều “dòng” văn hoá của các dân tộc khác trên cả nước nên tôi thấm thía với những mất mát. Sau nhiều năm đi dạy học ở miền núi, tôi đã kịp nhận ra rằng, những điều được gọi là tinh hoa ấy đã bị gặm nhấm bởi một thứ văn hoá lai căng, xô bồ. Có thể xem đó như một nguy cơ chăng?

Tôi quan niệm rằng, văn hoá phải được đồng hành với kinh tế. Sự đầu tư rất lớn của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc đã làm thay đổi một cách cơ bản về cuộc sống vật chất của họ, nhưng kèm theo nó là những nguy cơ sẽ mất dần bản sắc văn hoá của từng dân tộc.
Tôi lấy thí dụ, người Hrê đã và đang loại bỏ ngôi nhà sàn truyền thống trong bộ nhớ của thế hệ trẻ bằng những ngôi nhà ngói khang trang. Nhà xây thì đẹp đấy, song cái chất Hrê đã từng gắn bao số phận của dân tộc mình trong những ngôi nhà sàn không còn nữa. Kinh tế đã lấp dần văn hoá mà không biết. Bây giờ người ta hay nói đến khái niệm “đầu tư thiếu đồng bộ” là như thế.
Tôi nhất trí với quan niệm này. Nhà sàn thì còn phục dựng được, chiêng mất thì có thể làm cái khác nhưng những làn điệu dân ca, những câu chuyện cổ đầy chất anh hùng ca của người Hrê mà mất thì không phục dựng được. (Nói đoạn, chị đi vào nhà lấy ra một chồng bản thảo). Bây giờ, tôi dốc hết sức lực còn lại của đời mình cho những cuốn sách này đây. Tôi đã lặn lội hàng tháng trời lên các huyện vùng cao có người Hrê sinh sống để sưu tầm những câu chuyện cổ, các làn điệu dân ca của người Hrê đã bị thất truyền. Cũng là một cách “giữ lửa” cho dân tộc mình thôi.
Cũng chưa hẳn là thế, nhưng có một thực tế hiện nay đang gặm nhấm dần vào cách cảm, cách nghĩ của thế hệ thanh niên người Hrê đối với dân tộc mình. Thiếu nữ Hrê bây giờ mặc váy cảm thấy xấu hổ, thanh niên Hrê thì không biết đánh chiêng, hội làng nghe tiếng chiêng bằng máy cassette. Cũng may là trong một số bản làng hiện nay vẫn còn một vài cụ già đang lưu giữ những tài sản vô giá của người Hrê. Họ rất vui khi nghe tôi đặt vấn đề sưu tầm những câu chuyện cổ hoặc các làn điệu dân ca Hrê nên sẵn sàng ngồi cả ngày để kể cho tôi ghi chép lại.
Hơ Vê vừa hoàn thành hai bản thảo, một tập có tên “Văn hoá dân gian dân tộc Hrê”, còn tập kia là truyện cổ “Đam Xa Năng và Đam Răng Căt”.

BVH

(http://dangcongsan.vn)

 

Nga Ri Vê – “Người kể H’mon” của dân tộc Hrê

 (QNg)- Tập truyện và ký mang tựa đề “Người kể H’mon” của Nga Ri Vê vừa ra mắt thân hữu và bạn đọc là tác phẩm văn xuôi thứ hai của chị được ấn hành, sau tập “Truyện cổ Cadong”.

Nga Ri Vê là nhà thơ dân tộc Hrê, quê ở huyện Sơn Hà. Chị sáng tác thơ rất sớm và đã có thơ được đăng tải trên nhiều báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương. Chị đã xuất bản 3 tập thơ, trong đó tập “Đóa hoa rừng” đã được tặng giải B Hội Nhà văn Việt Nam năm 1992. Vượt ngưỡng tuổi 65, sức khỏe hạn chế, nhưng với niềm đam mê văn nghệ và ý thức bảo tồn vốn văn hóa quý báu của các dân tộc thiểu số trong tỉnh, chị vẫn lặng lẽ sáng tác và khai thác, sưu tầm văn hóa dân gian 3 dân tộc: Hrê, Cadong, Cor.

Tập sách “Người kể H’mon” tập hợp 20 truyện và ký được chắt lọc, tinh tuyển từ gần một đời sáng tác của chị. Truyện và ký của Nga Ri Vê mang đậm hơi thở đại ngàn với cách nghĩ, cách nói, cách diễn đạt mộc mạc, chân chất, giàu hình tượng của bà con dân tộc thiểu số. Cái yêu, cái ghét của từng nhân vật cũng rõ ràng, minh bạch như chính cuộc sống đang diễn ra trên quê hương Quảng Ngãi. Là một người suốt đời làm nghề giáo, nên trong nhiều tác phẩm của chị bóng dáng những thầy giáo, cô giáo cùng đám học trò luôn đậm nét và chiếm nhiều tình cảm trên những trang viết đầy nhiệt tâm, nhiệt tình của một nữ nhà giáo – nhà văn trong huyết quản.

Số phận của cậu bé Sang Điêng mồ côi được đổi thay nhờ tình yêu thương, đùm bọc của cả cộng đồng và vòng tay nhân ái của cô giáo Y-Va để em có thể ngẩng cao đầu bước vào chân trời mới sau lần sinh nhật thứ 15 do thầy cô và bạn bè tổ chức: “Thế là cuộc đời Sang Điêng bước sang một bước ngoặt mới, một điều nằm mơ mà chẳng thể có. Ai cũng mừng cho em. Ai cũng chúc em ngoan, học giỏi và sống xứng đáng với tình nghĩa của cô Y-Va đã dành cho em. Từ đó con suối Huy Măng chỉ còn có bình minh, bình minh dịu dàng, ấm áp lạ thường” (Sang Điêng).

Nga Ri Vê viết về núi rừng, về những plây chìm trong đại ngàn, mây trắng với tình cảm tha thiết yêu thương và những câu văn thấm đẫm chất thơ: “Plây Krá – Uxao cao cao trên lưng chừng đồi. Khi ông mặt trời thức dậy, sương bạc phủ vai mờ ảo, đính trên cỏ cây những viên ngọc li ti long lanh óng ả. Ban ngày muôn vàn đóa hoa mây trắng sà xuống, phủ mát những mái nhà sàn cheo leo, heo hút. Đến khi ông mặt trời đi ngủ, Plây im lìm chìm vào trong áo thần đêm, yên ả, mơ màng, mọi cảnh vật cũng gật gù đi ngủ” (Chuyện của Y-Ly).

Trong “Người kể H’mon” còn có nhiều nhân vật đầy cá tính như cô giáo Y-Mai, người con gái núi Ka-Mua, người con trai xóm Linh Mo, Y-Sao v.v… được khắc họa đậm nét bằng cách nghĩ, cách sống, trong từng số phận. Truyện “Người kể H’mon” được chọn làm tựa đề chung cho cả tập là một truyện tuy ngắn, nhưng khá đặc sắc. Nhân vật trong truyện là ông già Phạm Văn Hêng ở Ba Tơ – là một trong những người Mon (kể chuyện cổ) hiếm hoi của dân tộc Hrê. Nga Ri Vê viết: “Mon Hrê là nền tảng của sinh hoạt cộng đồng, nó là nền văn hóa của dân tộc Hrê. Mon được diễn đạt theo thể vừa văn vần vừa văn xuôi. Kể (văn xuôi), hát (văn vần), ngôn ngữ giàu hình tượng, nhạc điệu trầm bổng, âm điệu mượt mà say đắm, là di sản văn hóa độc đáo của người Hrê. Nó tồn tại cùng sự sinh tồn, phát triển cộng đồng và lưu truyền như một vốn quí với nhiều đề tài”.

Là người dạy học, làm thơ, viết văn và khai thác, sưu tầm văn hóa dân gian Hrê, chính bản thân Nga Ri Vê cũng là người kể H’mon đầy tâm huyết của dân tộc Hrê.

 Trầm Thụy Du

 Rồi thế giới cũng biết…

 Phạm Quang Trung

 Ngày 15/03/2010, tại Thành phố Đà Lạt, Hội Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt Nam có tổ chức Hội thảo Văn học Nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và Nam Trung bộ. Sau đây là bản tham luận của Nhà lý luận, phê bình văn học Phạm Quang Trung tại cuộc Hội thảo này. 

 Xin được lấy lời căn dặn chí tình chí lý, thể hiện nỗi mong mỏi da diết của Hồ Chí Minh đối với văn chương nghệ thuật các dân tộc qua trường hợp nghệ sỹ Kim Nhớ – người dân tộc thiểu số H’Rê, làm tựa đề cho bản tham luận này của mình. Vào thời tôi, không mấy người không từng mê đắm giọng hát vút cao, lảnh lót mà đằm thắm của ca sỹ Kim Nhớ,  đặc biệt là khi chị thể hiện rất thành công bài hát Chim Pôngkle của nhạc sỹ Nhật Lai. Chị được vinh dự nhiều lần gặp Bác, hát cho Bác nghe, và trực tiếp nghe những lời khuyên nhủ ân cần của Người. Năm 1960, sau khi nghe Kim Nhớ hát bài Thương anh bộ đội, Bác Hồ khen và bảo: “Cháu hát hay lắm, nhưng cần phải luyện cho hay hơn, làm cho mọi người biết nghệ thuật của người H’Rê mình”. Một lần khác, sau chuyến cùng Đoàn Nghệ thuật Quân đội đi lưu diễn dài ngày ở các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu trở về, chị may mắn lại được biểu diễn báo cáo với Bác. Người không quên dặn dò: “Nhớ thì phải hát thật hay, cả nước biết người H’Rê hát hay rồi thế giới cũng biết” (Văn hóa Các dân tộc – số 7/2003, tr.9). Vâng, “rồi thế giới cũng biết”, đó là mong muốn thường trực lúc sinh thời của Hồ Chí Minh. Hẳn nhiên không chỉ đối với người H’Rê. Mà cũng không riêng gì lĩnh vực văn chương, nghệ thuật. Nhưng không hiểu sao, vào những ngày này, khi cả dân tộc đang tiến những bước dài trên con đường hội nhập với thế giới bằng việc đẩy nhanh, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tự nhiên tôi thấy câu nói của Người vang lên với một âm hưởng khác hẳn. Sức lan truyền của lời nói, vì thế, cũng trở nên sâu rộng hơn nhiều. Nhất là trong tâm nguyện của những người làm văn chương nghệ thuật luôn có ý thức gắn chặt hoạt động nghề nghiệp với vùng đất của mình, với dân tộc của mình như chúng ta.

 Tự nhiên tôi nhớ tới bài Chị tôi của nhà thơ Hơ Vê –  dân tộc H’Rê. Bởi người chị mà tác giả nhắc tới và trân trọng đề tặng ở đây chính là ca sỹ Kim Nhớ. Ngay từ khổ đầu, nữ nhà thơ của chúng ta đã dứt khoát khẳng định: Không mòn cũ và tự bỏ mất mình/ Từ một vùng sâu xa/ Chị tôi/ Trỗi dậy… Ý thơ mạnh mẽ, giọng thơ rắn rỏi, thể hiện chân xác một sự thật – sự thật này đi liền với một đòi hỏi mang tính nghề nghiệp đặc thù. Nghệ thuật đích thực ngàn đời nay khi nào chẳng thế: phải có cá tính, không được phép “mòn cũ”, đồng thời lại phải mang bản sắc riêng của dân tộc mình cho dầu đó là một dân tộc ở vùng “sâu xa”, số dân chưa phải đã nhiều nhặn gì. Nguyên cớ của những vần thơ sau là thế: Chị bé nhỏ/ đường lầy – sương mây – hút lối/ Mượn bóng hoàng hôn che chắn/ Bóng mình/ Dìu nỗi đau qua cơn co thắt. Có điều, cái nhìn của nghệ sỹ Kim Nhớ đồng thời là cái nhìn của người viết khi nào cũng hướng về phía trước, “tìm về tương lai” với bao “khát vọng vơi – đầy”… Đọc đến đây, tôi, và chắc các anh các chị cũng thế, đều có thể chia sẻ với tâm tình ẩn trong khổ kết của bài thơ:  Từ cái nhìn đau thương gai góc/ Trái tim chị sinh nở thi nhân/ Chất đầy vần điệu… Không còn ranh giới giữa nhạc và thơ. Như bất kỳ sự sáng tạo thành công nào trong hai lĩnh vực vốn là anh em sinh đôi này.

 Nhờ thế, đầu óc mau chóng đưa tôi trở về với dân tộc H’Rê. Kể cũng chẳng xa lạ gì! Vào năm 1959, bài thơ Bóng cây Kơ Nia xuất hiện như một hiện tượng lạ lùng. Khi ấy, tôi thấy trân trọng ghi ở cuối tác phẩm những dòng chữ sau: Dân ca H’Rê do nhà thơ Ngọc Anh phỏng dịch. Như có phép màu, bài thơ có thể nói lập tức lay động cả thế hệ người đọc chúng tôi. Rồi nó đi vào sách giáo khoa, được bình giảng sâu rộng ở nhà trường, trở thành tài sản tinh thần quý giá, góp phần làm nên sức mạnh của cả dân tộc trong cái thời triền miên đánh giặc giữ nước. Sau này có điều kiện tìm hiểu thêm, tôi được biết dân tộc H’Rê có chừng 6,5 vạn người, cư trú tập trung ở vùng núi và trung du phía Tây các tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Tộc danh H’Rê là tên tự gọi, theo tiếng địa phương có nghĩa là “đầu nguồn sông Rê”, tức sông Trà Khúc thân thuộc của khúc ruột miền Trung dằng dặc. Dân tộc này sở hữu một kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú và đặc sắc. Tôi nhớ tới những nhạc cụ đặc sắc như đàn brooc, đàn môi, b’bút… Tôi đặc biệt nhập tâm những lời dân ca thiết tha mà cuốn hút sau: Em là con chim pơti/ Em là hoa cao nhớ hoa pơlang, hoa kẹo khà/ Anh là cái tổ giữa thân cây cho chim pơti ở/ Anh là nắng ấm cho hoa cao nhớ không tàn/ hoa pơlang không héo úa, hoa kẹo khà không mất mùi thơm vì giá lạnh gió đông/ Sao em không chịu cưới anh về làm chồng? Tại Trại Sáng tác văn học nghệ thuật Các DTTS – Tam Đảo tháng 5/2003, Hơ Vê đã dồn tâm trí và thời giờ hoàn thành một công trình sưu tầm và biên dịch trường ca dân tộc H’Rê. Tôi cứ ước ao một ngày nào đó sẽ được đọc bản trường ca này nhưng cho tới giờ vẫn chưa có được cái may mắn ấy.

 Tuy nhiên, những hiểu biết như thế cũng đủ đưa tôi đến những bài thơ khác của nữ nhà thơ người H’Rê. Như bài Ra Manh hôm nay. Hơ Vê viết: Ôi Ra Manh!… Ra Manh của tôi!/ Tôi dang tay ôm mặt trời bốn hướng,/ Mang hồn thơ ru ngọt cho đời. Ấn tượng với tôi hơn cả có lẽ là bài Cho con cái lời. Những vần thơ chân tình, không một chút uốn éo, điệu đàng: Mẹ nghèo,/ Đời mẹ nhăn nheo như đá núi… Khi “các con ra ở riêng”, liệu có người mẹ nào trên đời lại không mong dành cho con mình một chút tài sản riêng. Nhưng nghèo về vật chất quá, nên “mẹ chỉ cho cái lời”. Đó là những lời khuyên nhủ từ đáy lòng, với tất cả trách nhiệm cao nhất có thể có của các bậc sinh thành. Vì thế mới quý giá, thật sự quý giá: Đừng lười như con ka-ni (con chuột),/ Đừng nhát như con pơroăcq (con sóc),/ đừng ồn ào cãi nhau như con ha-dro (con ve)/ Hãy khôn như con chồn, con sóc/ Biết chọn ăn trái tốt, trái lành/ Hãy dũng cảm như con tho (con thỏ)/ Không sợ con vu-co (con cọp) to xác/ và cần cù như con xutq (ong mật)/ Mang vị ngọt cho đời. Bài thơ xúc động lòng người trước hết là ở tâm tình người viết. Riêng bài Người Ca Dong của Hơ Vê lại có nhiều hình ảnh sâu sắc mà đặc sắc: Đạp gai cào gai xé, đánh thức mắt trời/ Đu cồn mây vách đá, dìu vầng trăng lên. Nhất là khổ kết: Người Ca Dong ở trên cao/ Đường dốc lên cửa trời/ Mây giăng đỉnh núi/ Lấp lánh sao cài kim cương… Tôi thích cái thế đứng lồng lộng giữa mây trời, sông núi luôn sáng trong của con người đang khao khát vươn tới làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời. Tuy phải nói rằng, những câu thơ sau, bảo hay thì hay đấy, có điều đọc xong lại cứ thấy vấn vương ở đâu đó: Người Ca Dong ở trên cao/ Mắt sáng, da nâu/ Hiền như củ mì, củ mài/ Lành như con sóc, con nai/ Giận như hổ như báo/ Tin như đất, như trời/ Yêu như chim yêu rừng, như cá yêu nước. Nguyên do là bởi hình như chúng đã được một ai đó viết ra ở đâu đó rồi thì phải. Lao động nghệ thuật khắc nghiệt thế đấy: hay nhưng phải mới, mới màlại phải ẩn chứa thật nhiều ý nghĩa. Như vậy mới mong có một sức sống bền lâu…

 Nói tới đây, tự nhiên tôi nghĩ tới thành tựu thi ca được nhiều người thừa nhận của nhà thơ Pờ Sảo Mìn. Dân tôi chỉ có hai ngàn người/ Như cái cây hai ngàn chiếc lá. Vậy làngười Pa Dí của anh còn ít hơn người H’Rê nữa kia. Thế nhưng, đúng như nhà thơ nổi tiếng Raxun Gamzatốp từng nói:“Dân tộc nhỏ có thể có số phận lớn”. Từ đó mà suy ra, dân tộc nhỏ có thể và cần phải tạo dựng nên một nền văn chương, nghệ thuật lớn nhằm thể hiện số phận kia. Pờ Sảo Mìn phần nào đã làm được điều đó. Bài Cây hai ngàn là và bài Con trai người Pa Dí là những dẫn dụ điển hình. Bằng ngòi bút mà đúng hơn là bằng cái nhìn sắc sảo, anh đã tạc nên chân dung có một không hai của dân tộc mình. Từ dáng vẻ bề ngoài: Mắt một mí, tóc đen, mũi tẹt, da vàng/ Dáng ngang tàng vẻ quẫy đạp trần gian… đến sức mạnh bên trong: Biết gọi gió, gọi mưa, gọi nắng/ Chặn suối ngăn sông, bắt nước ngược dòng/ Ngô lúa cười reo trên sân trời ta đó… Đặc biệt nhất là ở ý chí sắt đá: Đã lên yên không bao giờ ngã ngựa/ Đã lên yên trên đường dài thiên lý/ Cứ thế phi bay… Tôi cứ nghĩ, những vần thơ như vậy sẽ có điều kiện vượt qua được những thách thức khốc liệt của thời gian vốn từng nghiền nát bao giá trị nông nổi một thời. Được vậy mà có khi nào Pờ Sảo Mìn tự hài lòng đâu. Anh luôn tâm niệm: Bao đêm cầm bút/ Không viết thành thơ/ Bao đêm ngồi hát/ Vẫn chưa thành bài. Pờ Sảo Mìn là một trong những nhà thơ dân tộc thiểu số được nhiều người thực lòng quý mến chính là vì lẽ đó!

 Ở trên, tôi vừa nhắc tới nhà thơ dân tộc vùng Đaghextan – Raxun Gamzatốp. Dân tộc Avar của ông cũng chỉ có hơn 20 vạn người. Nhưng sự nghiệp văn chương ông để lại, tôi nghĩ, đã thuộc về nhân loại khắp bốn phương trời. Của hôm nay và của muôn đời sau… Tôi hiểu vì lẽ gì mà nhà thơ Lò Ngân Sủn của chúng ta lại đề cao ông đến vậy. Trong bài Suy nghĩ về dịch thơ, nhà thơ dân tộc Giáy nhắc nhiều tới những bài học vô giá rút ra từ nhà thơ bậc thầy Raxun Gamzatốp. Lò Ngân Sủn viết như sau về tập Đaghextan của tôi: “Cuốn sách đã hấp dẫn tôi từ đầu đến cuối và sau đó đã trở thành sách gối đầu giường của tôi…”. Còn với tập thơ Raxun Gamzatốp và… thơ thì Lò Ngân Sủn nhất mực suy nghĩ: “Một lần nữa thơ của Raxun Gamzatốp lại gieo vào lòng tôi những âm thanh lảnh lót, xanh tươi, phơi phới cuộc đời, phơi phới tình yêu, nồng nàn, cháy bỏng, được cất lên từ trái tim khối óc thân thương, yêu quý và vĩ đại”  (Văn hóa Các dân tộc – số 7/2003, tr.27).

 

Tôi nghĩ, ta đang sống trong những tháng ngày rộng dài. Đúng như nhà thơ lớn Chế Lan Viên từng viết: Buổi thủy triều vẫy gọi những vầng trăng. Có thể khẳng định rằng đãcó đủ những điều kiện cần thiết để làm nên những tác phẩm nghệ thuật lớn, xứng đáng với nỗi trông chờ của dân tộc và thời đại. Tất thẩy chỉ còn tùy thuộc vào sự gắng gỏi không biết mệt mỏi của mỗi người nghệ sỹ chúng ta. Chỉ có vậy, nỗi mong mỏi của vị lãnh tụ kính yêu ngày nào“rồi thế giới cũng biết” tới nền văn chương nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nammới dần dà trở thành hiện thực.

Xin chúc các anh, các chị sức khỏe và thành đạt.

Chúc cuộc hội thảo của chúng ta thành công tốt đẹp!.

 

 

Advertisements

Entry filed under: HƠ VÊ.

Tại sao thiếu vắng người chiến sĩ trong văn học hôm nay? Một số hiện tượng văn học nổi bật thời kỳ đổi mới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 348,163 Người

Categories


%d bloggers like this: