Tại sao thiếu vắng người chiến sĩ trong văn học hôm nay?

Tháng Mười Hai 15, 2012 at 2:59 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Tại sao thiếu vắng người chiến sĩ trong văn học hôm nay?

Văn học về người chiến sĩ luôn là mối ưu tư hàng đầu của văn học Việt Nam thời hiện đại. Các cuộc chiến tranh thời hiện đại đã để lại dấu vết sâu đậm lên tâm lý, tính cách và ngôn ngữ người Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế văn học hiện nay, hình như dấu vết này đang mờ nhạt dần. Tại sao vậy? Có phải gánh nặng quá khứ, theo thời gian, đã phần nào nhẹ bớt? Hay cuộc đời mới với nhiều mối ưu tư đã tập trung vào mối ưu tư thường trực là các vấn đề quốc kế dân sinh?

Nhìn lại lịch sử, không phải ngẫu nhiên mà thời điểm kháng chiến chống Mỹ lại là thời điểm nảy sinh và đạt thành tựu rất cao của cảm hứng anh hùng trong văn học Việt Nam. Chính trong những tổn thương tàn khốc nhất, người ta đã quyết tâm vươn lên để khẳng định sức sống của mình. Cuộc chiến tranh nào không tang tóc, đau thương. Không ai được quyền phủ nhận điều đó. Nhưng không vì thế mà nó hủy diệt được chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khi cách mạng đại diện cho chính nghĩa, cho dân tộc. Và quan trọng hơn, những người đại diện cho nền văn học ấy, những người chiến sĩ vừa cầm súng vừa cầm bút, lại là những con người đang tuổi trẻ. Mà sức sống nào, nhiệt huyết nào, niềm tin nào có thể cao hơn sức sống, nhiệt huyết, niềm tin của tuổi trẻ!

 Thơ trẻ, văn trẻ thời chống Mỹ đều mang âm hưởng hùng ca. Lãng mạn và cách mạng đã chi phối việc lựa chọn hình tượng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu, ở cả một lớp nhà văn, như Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Phạm Ngọc Cảnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi, Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Đình Văn,… trong thơ; và Hữu Mai, Phan Tứ, Chu Cẩm Phong, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Lê Minh Khuê, Xuân Thiều,… trong văn xuôi. Sẽ có lúc, về sau này, người ta nhìn nhận chiến tranh ở một khía cạnh khác, như sẽ được chỉ ra ở dưới đây. Nhưng ngay những năm 60-70 của thế kỷ XX, một cảm hứng như thế, những con người như thế, lời ăn tiếng nói của họ, hành vi cử chỉ của họ, ước mơ khát vọng của họ,… là hết sức chân thực, có sức lay động và tạo được niềm đồng cảm. Ở đấy, nhà văn, qua một vài nhân vật tiêu biểu – chủ yếu là người chiến sĩ-đã khắc họa thành công một thế hệ thanh niên Việt Nam dũng cảm, kiên cường mà vẫn rất hồn nhiên, tươi trẻ, yêu đời. Gian khổ chiến tranh, bom đạn kẻ thù không khuất phục được họ, thậm chí ngược lại, hun đúc họ thành những con người tiêu biểu cho phẩm chất và khí phách của con người Việt Nam.

 Bước sang thời bình, dư hưởng của dòng văn học anh hùng cách mạng ấy vẫn còn được nối dài, dù bên cạnh thắng lợi vẻ vang, người chiến sĩ hậu chiến cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề mới, xuất phát từ cái nhìn của hoàn cảnh lịch sử mới, về cả quá khứ và hiện tại. Trên văn đàn, vẫn là người chiến sĩ hậu chiến trong mô hình của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Trí Huân, Lê Minh Khuê, Lê Lựu, Chu Lai… Người chiến sĩ hậu chiến được quan tâm khắc họa ở nhiều chiều cạnh cuộc sống của họ, mà trong đó, hồi tưởng về quá khứ và bất an về hiện tại là hai vấn đề được các nhà văn xoáy sâu khai thác. Nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng đây là một bước tiến của văn học về chiến tranh và cách mạng, bởi lẽ nó đã dựng lên hình ảnh người chiến sĩ một cách đầy đủ và đa diện hơn, vì thế người hơn, mang tầm phổ biến và nhân loại hơn. Có thể coi đây là một chặng đường văn học hậu chiến. Tính chất tái nhận thức chiến tranh như thế kéo dài trong văn học đến khoảng giữa thập niên 90 của thế kỷ trước. Và cũng giống như sự sinh thành của nó (dựa vào sự thay đổi hoàn cảnh lịch sử: Hình thành bởi hoàn cảnh thời bình, thống nhất đất nước) thì sự kết thúc của nó cũng do bởi sự thay đổi hoàn cảnh lịch sử việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, WTO… Văn học về chiến tranh và người chiến sĩ sau chặng đường hậu chiến có những thay đổi rất đáng kể, đầu tiên là số lượng nhà văn và tác phẩm, cùng với đó là cảm hứng và vấn đề con người, nhân vật.

 Văn học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa mang đến những sắc thái khác hẳn về cách thức tiếp cận đề tài chiến tranh và người chiến sĩ. Chiến tranh giờ đây được tiếp cận trên sự giao cắt của nhiều vấn đề khác, chứ không chỉ là tái nhận thức về chiến tranh hay số phận người chiến sĩ hậu chiến. Chiến tranh được đặt trong các không gian văn hóa khác nhau, trong những ngẫu nhiên lịch sử khác nhau, trong những tương quan xếp chồng khác nhau của các khuynh hướng vận động lịch sử,… Vì vậy, cái không khí chiến tranh nóng bỏng không chiếm ưu thế, mà thế vào đó là một cảm thức day dứt về chiến tranh, sự suy tư về nó như một thời khắc đã qua của lịch sử, không thể nguôi ngoai, cũng không thể bôi xóa. Chiến tranh quy định sự hình thành và phát triển của dân tộc. Chỉ tiếc rằng, những tiếp cận mới mẻ về chiến tranh kiểu này đã ít được các nhà văn phát triển, để có thể đẩy văn học về đề tài chiến tranh và cách mạng dấn sâu vào một không gian văn học khác, hứa hẹn nhiều bứt phá.

 Có lẽ, sự thay đổi quá nhanh của đời sống kinh tế đất nước đã góp phần không nhỏ vào sự tàn phai của ký ức. Việt Nam, vốn chưa trải qua thời đại công nghệ để bước vào nền văn minh hậu công nghệ, nhưng luôn chứa trong nó những rạn nứt bất thường dễ dàng tạo cơ hội cho những thay đổi hệ hình tư duy kiểu như hiện đại/hậu hiện đại. Văn học về đề tài chiến tranh và người chiến sĩ đã dần vắng vẻ trong chính sự quy chiếu và vây bọc của không gian hội nhập và toàn cầu hóa ấy. Nó khiến cho quy luật tái nhận thức về chiến tranh trong văn học cổ điển trở nên bất khả vận hành: Độ lùi thời gian cần thiết để có cái nhìn đầy đủ và bao dung về chiến tranh kiểu “Chiến tranh và hòa bình” của Lép Tôn-xtôi.

 Thời đại tiêu dùng với những nhu cầu vật chất và văn hóa đa dạng của nó đã thu hút hầu hết sự quan tâm của giới trẻ. Bước sang thế kỷ XXI, những chất vấn đại tự sự như về quốc gia dân tộc, về số phận con người, lùi bước trước những thụ cảm về đời sống. Dòng văn học phổ thông hướng về tiêu thụ các văn hóa thời thượng, sau Pop là MTV và Kpop, đã diễn dịch đời sống Việt Nam theo một đường hướng khác hẳn. Trong phạm vi văn học, văn học cổ điển chịu lép vế trước văn học phổ thông, mà nổi bật trong đó là xu hướng trinh thám và ngôn tình. Vẫn có một bộ phận các nhà văn trẻ cố gắng gián cách với không gian ấy để duy trì nền văn học tinh hoa, như Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Thuần, Trần Nhã Thụy, Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Võ Diệu Thanh, Uông Triều,… Song quả thực, những nỗ lực như vậy là quá nhỏ bé so với bộ máy tiêu thụ văn hóa khổng lồ hiện tại. Dễ hiểu vì sao trong bối cảnh ấy, văn học về chiến tranh và người lính vắng bóng trong đời sống văn học. Chúng tôi đã quan sát cuộc thi truyện ngắn và thơ trên tạp chí Văn nghệ quân đội vài năm trước, gần đây cũng để tâm tới cuộc thi truyện ngắn đang dần vào chặng cuối của tuần báo Văn nghệ, trong sự có mặt của hàng trăm tác giả với cả ngàn tác phẩm dự thi như thế, đề tài chiến tranh và người chiến sĩ cũng chỉ chiếm một bộ phận khá nhỏ bé.

 Có hay không hy vọng vào sự phát triển rực rỡ của văn học chiến tranh và người lính. Bởi đề tài của nó thực chất là tái dựng một thời đoạn tao loạn của dân tộc, mà rất nhiều người trong chúng ta hôm nay đang muốn nguôi quên để xây dựng một đời sống mới, dù thực tế là không dễ nguôi quên. Có lẽ phải đặt vấn đề vào chính cái sự không dễ nguôi quên ấy, thì văn học chiến tranh và người chiến sĩ mới tìm được vị thế của nó trong hiện tại, như cái cách mà nhà văn Phi châu Chi-nu-a A-chê-be đã làm: Sau những trang viết về quê hương tan rã (Things fall apart) là những trang viết về sự không nguôi ngoai về sự tan rã ấy (No longer at ease), trong hai tiểu thuyết thời danh của văn học lục địa đen đầy đau thương và mất mát bởi chiến tranh và phân biệt chủng tộc. Theo đó, những ưu tư về lịch sử và văn học đề tài lịch sử hiện nay đáng được xem là một cơ hội cho sự tái diễn của văn học về chiến tranh và người chiến sĩ. Tất nhiên là với tất cả sự nhạy bén và ý thức dân tộc, ý thức nghề nghiệp của người cầm bút.

Thạc sĩ ĐOÀN ÁNH DƯƠNG 

 

(Nguồn: Quân đội nhân dân)

 

Advertisements

Entry filed under: 3- NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH.

Phạm Đương, giọng thơ dấn thân Nhà thơ Hơ Vê (Ngarivê)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 362,606 Người

Chuyên mục


%d bloggers like this: