Đôi điều về thơ Việt Nam sau 1975

Tháng Mười Hai 9, 2012 at 1:57 chiều Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Đôi điều về thơ Việt Nam sau 1975

(Toquoc)- Trong văn học Trung đại, thơ gắn với hình thức ngâm vịnh để bộc lộ những tâm sự trước thế thái, nhân tình, khát vọng quan trường (thơ ngôn chí). Để thể hiện được điều đó các nhà thơ phải sử dụng những phương thức trữ tình sâu lắng, nhằm gia tăng sức gợi về những chiều sâu suy cảm của người đọc. Đồng thời những khúc ngâm đó cũng rất phù hợp với một đời sống nông nghiệp phương Đông có nhịp độ chậm và ít thay đổi. Ta có thể nhận ra sự tương đồng ấy ở cả các lĩnh vực như âm nhạc và ca múa.

Khi bước sang thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện của một đời sống hiện đại đã tạo ra sự thay đổi trong tâm thức của người viết và công chúng. Thơ ca đã hướng đến công chúng và bày tỏ những quan niệm mới mẻ về cuộc sống, đó là những cách bộc lộ trực diện nhằm thể hiện hơi thở nóng hổi của cuộc sống mới. Chính vì thế thơ trữ tình điệu ngâm đã chuyển sang trữ tình điệu nói.

 

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thơ kháng chiến vẫn nối tiếp mạch thơ ấy và đã có những sáng tạo mạnh mẽ ở nhiều mặt trong đó có ngôn ngữ thơ. Thơ không chỉ tồn tại trong môi trường nhỏ hẹp với một số ít công chúng mà đã có sự mở rộng mạnh mẽ. Người đọc đã vươn lên tự cầm bút và hình thành đội ngũ thơ kháng chiến nhưng đồng thời thơ cũng phải đáp lại những đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị là phản ánh những hiện thực trung tâm của đời sống để mang đến cho quần chúng nhân dân niềm lạc quan cách mạng. Các phương thức trữ tình trước đây ít nhiều phải thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh mới. Một số nhịp điệu ngâm nga được sử dụng và cải biến để truyền tải những tinh thần đấu tranh cách mạng mới mà Việt Bắc của Tố Hữu là một minh chứng.

 

Bước sang giai đoạn sau 1975, thơ Việt Nam đứng trước một yêu cầu phải nói được những tâm sự của con người khi trở lại với cuộc sống thời bình. Thơ là người bạn tri âm để giãi bày những tâm sự đó. Phương thức trữ tình điệu nói được đẩy cao hơn và được đông đảo các tác giả sử dụng. Có thể nhận ra hai dạng thức phổ biến như sau:

 

Những tác giả theo xu hướng này không chỉ muốn đem đến một sự mới mẻ cho câu thơ của mình mà còn muốn bày tỏ những tâm sự thông qua ngôn ngữ giao tiếp. Chất đời thường, đời sống đã được đưa vào thơ bằng nhiều cách khác nhau:

Con hỏi:

– Vì sao mà cũng khóc khi ông không còn?

Bố kể cho con:

Về những cái chết ở chiến trường xa lắc.

Con hỏi:

– Thế lúc chọn đồng đội, toàn bộ đội có ai khóc không?

Bố giật thót mình nhìn lại

mừng thay

vẫn còn nguyên những giọt

nước mắt trong lòng

(Lời con hỏi – Phùng Khắc Bắc)

Không sử dụng nhiều câu hỏi để tạo nên cấu tứ bài thơ như Phùng Khắc Bắc nhưng Phạm Công Trứ lại có câu thơ chua chát gợi một bi kịch tình yêu ở thời đổi mới:

Về quê ăn tết vừa rồi

Em tôi áo chẽn em tôi quần bò

Gặp tôi em hỏi hững hờ

Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai?

(Lời thề cỏ may)

Hoặc chỉ là một câu thơ lấp lửng như cách viết của Nguyễn Trọng Tạo nhưng đã khiến người đọc phải nghĩ nhiều về một lời nói có phần kiêu bạt mà chua xót:

Tin thì tin không thì thôi

Trong rất nhiều thủ pháp cách tân của mình, Nguyễn Duy dã triệt để khai thác những lời nói trong đời thường để bày tỏ cảm xúc, điều đó vừa tạo ra sự sinh động, vừa khéo léo:

 

Chúng mình nhắm mắt đi em

Để na mở mắt ra xem chúng mình.

Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – một nhà thơ của thơ ca giai đoạn trước cũng góp một tiếng nói trực tiếp như thế:

Một hôm bạn đến thăm tôi

Tặng cho một tập ôi trời ! là thơ

 

Bên cạnh những câu thơ có phần thô phác, thơ sau 1975 còn có những câu thơ kể, như một sự tường thuật. Có người cho rằng, đây là hiện tượng bổ khuyết chất tự sự vào thơ hiện đại, điều đó sẽ được làm rõ trong những công trình nghiên cứu riêng biệt. Tuy nhiên, ở phương diện ngôn ngữ thơ, sự xuất hiện của những câu thơ này làm gia tăng thêm chất đời thường. Những câu thơ này thường được điểm xuyết những từ gợi cảm xúc mang hơi thở cuộc sống:

 

Cả đời buộc bụng thắt lưng

Mẹ như tằm nhả bỗng dưng tơ vàng

(Đồng Đức Bốn)

Yêu thơ cùng với yêu hoa

Nhưng đừng yêu quá như là bố yêu

(Đỗ Trung Lai)

Thế rồi thôi, thế rồi thôi

Em về dốc vắng tôi lui phố phường

Tối gác hẹn, trưa góc đường

Quen nhau một buổi nhớ thương được nào

(Vu Duy Thông)

 

Hiện tượng này đã xuất hiện trong những năm đầu của thời kì đổi mới như một sự “phá khung” đem lại cho độc giả cảm giác vừa lạ lùng vừa thích thú. Nếu nhìn lại lịch sử vấn đề, lâu nay thơ thường hạn định (một cách bất thành văn) từ ngữ ở những lĩnh vực gần gũi. Đa phần, các nhà thơ thường dùng những từ ngữ mĩ lệ, lấp láy hay có sức gợi lớn để thể hiện như là một yếu tính của thơ. Còn ở đây, các tác giả không ngại “nhập khẩu” và “thơ hoá” thành công những thuật ngữ đó. Từ ngữ của ẩm thực:

 

May thay con mắt không hà tiện

Khai vị đầu năm biết liếc anh

(Bùi Chí Vinh)

Hay của triết học và kinh tế:

Người ta duy vật khắp nơi

Em thì duy lý còn tôi duy tình

(Phạm Công Trứ)

Vật giá tăng vì hạ giá linh hồn

(Nguyễn Duy)

 

Để triết lí về các vấn đề nhân sinh, các nhà thơ thường tìm cho mình một chỗ đứng, một vị thế thấp trong đời thường để cất lên tiếng thơ đồng cảm với những thân phận ấy. Đó là cách mượn vị thế của tễu, xẩm, trẻ đồng dao:

Nguyễn Duy đã sử dụng giọng “xẩm ngọng” nói thơ:

Nghêu ngao hát ngọng nghẹo chơi

Người cười nói xúc phạm người ngậm tăm

Ngứa nghề hát ngọng nghẹo thôi

Người yêu nhau xúc phạm người ghét nhau

(Xẩm ngọng)

Nguyễn Trọng Tạo mượn ngữ điệu đồng dao để cất tiếng:

Có câu trả lời biến thành câu hỏi

Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới

(Đồng dao cho người lớn)

Lại có nhà thơ vào vai một nhân vật trong múa rối nước để cất lên tiếng nói về nhân tình thế thái, luận về sự đời bằng giọng nhẩn nha mà sâu lắng:

 

Cởi trần đóng khố múa chơi

Hát rằng, giữa đất và trời có ta

Đất là mẹ, trời là cha

Chính danh gọi Tễu, tự là Thảo Dân

Ra trận đành phận tốt đầu

Về làng thì lại cưỡi trâu ra đồng

Ai nhanh hoá hổ hoá rồng

Ta tuy trâu chậm nhưng không sá gì

(Tễu – Phạm Công Trứ)

Bên cạnh đó, các nhà thơ còn sử dụng giọng thơ giễu nhại, với cảm hứng giải thiêng, nhằm xoá bỏ khoảng cách giữa nghệ thuật và đời thường. Trong những tác phẩm này, những từ ngữ “phàm tục” đã được trộn lẫn với thế giới thiêng của ngôi đền thi ca. Điều đó tạo ra một hiệu ứng đó là sự chua chát đằng sau mỗi nụ cười:

 

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại

Để dành thành mất cắp cả tình yêu

(Một góc chiều Hà Nội – Nguyễn Duy)

Hay nụ cười chua chát ẩn sau những phép tính nhẩm có vẻ rất khôn ngoan này:

21 tuổi hồn nhiên như vậy đó

3 bài thơ nhân với 7 hẹn hò

Khi rượu cạn, hoa tàn, tim tắt nến

Thỏi son hồng ra ngõ đứng co ro

(Tính nhẩm – Hoàng Nhuận Cầm)

Bà bán nước chè xanh không chỉ bán nước chè

Có bán cả phụ tùng tên lửa

(Trần Nhuận Minh)

Bùi Việt Phương

 

Advertisements

Entry filed under: 3- NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH.

Chùm thơ trong tập “Gõ” của Nguyễn Thánh Ngã Chùm thơ Phạm Vân Hiền

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 350,843 Người

Categories


%d bloggers like this: