Tháng Mười Hai 4, 2012 at 1:31 chiều Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HAI HỆ THỐNG NGÔN NGỮ TRONG VIỆC MIÊU TẢ

CHÂN DUNG CHỊ EM THÚY KIỀU

 

Trong các tác phẩm truyện nôm thời trung đại, khi miêu tả nhân vật, nhà văn thường sử dụng hai hệ thống ngôn ngữ (từ thuần Việt và từ Hán Việt) theo ba hướng cơ bản sau. Một là ưu tiên sử dụng từ Hán Việt trong việc xây dựng nhân vật chính diện và nghiêng về dùng nhiều từ thuần Việt đối với nhân vật phản diện. Hai là sử dụng cả hai hệ thống ngôn ngữ này cho việc mô tả nhân vật phản diện. Và ba là sử dụng cả hai hệ thống ngôn ngữ đối với nhân vật chính diện. Khuynh hướng thứ nhất là phổ biến hơn cả.

          “Nguyễn Du là bậc thầy của ngôn ngữ dân tộc, là tập đại thành về ngôn ngữ của thời đại ông, là người đã nâng ngôn ngữ văn học dân tộc của thời đại lên một đỉnh cao chói lọi” (GS. Nguyễn Lộc). Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn sử dụng rất thành thạo cả ba hướng này. Và trường hợp nào, Tố Như tử cũng rất thành công, để lại những vần thơ tài năng mà người đời ngưỡng mộ. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu một biểu hiện cho tài năng sử dụng ngôn ngữ theo hướng thứ ba của cụ Thanh Hiên. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn hai hệ thống ngôn ngữ trong việc miêu tả chân dung Thúy Vân, Thúy Kiều ở phần đầu Đoạn trường tân thanh, trích đoạn được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông với nhan đề “Chị em Thúy Kiều”.

          Trong Truyện Kiều, hai chị em họ Vương, nhất là nàng Kiều được miêu tả nhiều lần nhưng có lẻ trong trẻo, đẹp đẽ nhất là những vần thơ khắc họa chân dung ở phần đầu truyện, trong màn giới thiệu gia cảnh của nhà “viên ngoại họ Vương” từ câu 15 đến câu 38. Khảo sát 168 chữ trong 24 câu thơ này, chúng ta có bảng thống kê sau:

  Số lượng (chữ) Tỉ lệ (%)
Từ thuần Việt 99 58,9
Từ Hán Việt 69 41,1
Tổng cộng 168 100

           Như vậy, có thể thấy số lượng từ Hán Việt được sử dụng với tần số rất cao (41,1%), gần tương đương với số lượng từ thuần Việt (58,9%). Mỗi hệ từ sẽ phát huy ưu thế của mình khi được dùng đúng lúc, đúng chỗ. Trong trường hợp này, cụ Nguyễn đã chứng tỏ được bản lĩnh, tài năng sử dụng ngôn ngữ của thiên tài. Điều này thể hiện qua việc sử dụng hai hệ từ thuần Việt – Hán Việt không những chính xác mà còn hết sức tinh tế của nhà thơ trong việc miêu tả chân dung chị em Thúy Kiều.

          Trước hết, đó là việc sử dụng hai hệ thống từ ngữ một cách chính xác. Khi mô tả những đường nét cụ thể của ngoại hình nhân vật, tác giả đã sử dùng từ thuần Việt với tần số cao hơn hẳn. Chẳng hạn đối với nhân vật Thúy Vân, khi miêu tả khuôn mặt, nét mày, nhà thơ viết “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” (8/8, hoàn toàn thuần Việt), “mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” (7/8 chữ là từ Việt). Đối với nhân vật Thúy Kiều cũng vậy, nói về vẻ đẹp riêng của nàng, tác giả đã viết “Kiều càng sắc sảo mặn mà” (5/6 chữ là thuần Việt), “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”(6/8 chữ là thuần Việt). Hay như khi nói về cái đẹp riêng của từng người, cụ Nguyễn viết “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” (7/8 chữ là từ Việt)… Việc sử dụng từ thuần Việt, trong đó có những từ láy (đầy đặn, nở nang, sắc sảo, mặn mà), đặc biệt là từ láy tượng hình (đầy đặn, nở nang) với một tần số cao như vậy đã phát huy tối đa những đặc trưng của tiếng Việt là tính cụ thể, sinh động, gợi hình. Chân dung cụ thể của hai nàng Kiều nhờ vậy sẽ hiện ra cụ thể, rõ nét hơn. Nếu ở trường hợp này, tác giả thay vào bằng những từ Hán Việt tương đương thì sẽ rất khó để hình dung ra gương mặt, dáng vẻ của hai nàng.

          Ngược lại, khi nói về tên gọi, phẩm hạnh, tâm hồn, trí tuệ, tài năng, tuổi tác… của hai nàng, nhất là nàng Kiều, nhà thơ sử dụng một loạt từ Hán Việt: Thúy Kiều 翠翹, Thúy Vân 翠雲, mai cốt cách, tuyết tinh thần 梅骨格雪精神 (6/6 là từ Hán Việt), trang trọng 莊重, đoan trang 鍴庄, tài sắc 才色, thông minh 聰明, thi họa 詩畫, ca ngâm 歌吟, ngũ âm 五音, Hồ cầm 胡琴, bạc mệnh 泊命, phong lưu 風流, hồng quần 紅裙, tuần cập kê 旬及筓… Cũng với tần số cao như vậy, đến lượt mình, hệ thống từ Hán Việt đã phát huy được sở trường của mình. Bởi từ Hán Việt mang trong mình những đặc trưng là tính tĩnh tại, khái quát, trừu tượng, mơ hồ, trang trọng… có ưu thế trong việc miêu tả những phương diện trừu tượng, trang nghiêm… khi xây dựng nhân vật như trên đã nói. (Dĩ nhiên, tiếng Hán cũng như mọi ngôn ngữ khác đều có những từ ngữ thông tục, suồng sã… Nhưng từ Hán Việt có những đặc trưng trên có lẽ vì hai lí do. Một, đó là thuộc tính vốn có của tiếng Hán. Hai, từ Hán Việt là sản phẩm của của người Việt dựa trên tiếng Hán du nhập vào và phát triển ở nước ta chủ yếu bằng con đường hành chính quan phương, thi cử đã có sự chọn lọc). Ở đây, rất khó để thay những từ Hán Việt trên bằng các từ thuần Việt tương đương. Và nếu có thay thế được thì nhiều câu thơ sẽ giảm đi tính trang trọng, chuẩn xác rất lớn.

          Không chỉ chính xác, cụ Nguyễn Du còn sử dụng hai hệ thống từ ngữ này hết sức tinh tế. Đó là sự kết hợp hài hòa hai hệ thống từ ngữ này. 26/28 câu thơ có cả từ thuần Việt và Hán Việt xuất hiện với số lượng hai hệ thống từ gần tương đương nhau làm cho đoạn thơ cân xứng, giàu hình ảnh, nhạc điệu hơn. Mỗi hệ thống từ ngữ đều có mức độ, đúng ngữ cảnh nên làm tốt chức năng, phát huy được thế mạnh của riêng mình. Nhiều điển cố (Hồ cầm, tường đông), thi liệu văn học Trung Quốc (mai, tuyết, hoa, liễu, thu thủy, xuân sơn…) được sử dụng kết hợp với chất liệu ngôn ngữ dân tộc làm cho đoạn trích thêm sinh động, giàu hình ảnh. Bút pháp nhân hóa, ước lệ, “đòn bẩy”, “tâm lí hóa ngoại hình” và “thân phận hóa phẩm cách nhân vật” (GS. Đặng Thanh Lê) khắc họa sâu sắc hơn chân dung chị em Thúy Kiều… Tất cả cho thấy tài năng sử dụng ngôn ngữ tuyệt với của bậc đại thi hào, đúng như GS. Đặng Thanh Lê trong Giảng văn Truyện Kiều : “Nguyễn Du đã tạo nên tính chất sinh động trong chân dung nhân vật bởi vì bên cạnh những từ ngữ, những điển cố, những thi liệu văn học Trung Quốc được sử dụng thích đáng, Nguyễn Du còn đưa vào nhiều từ loại dân tộc có giá trị biểu đạt và biểu cảm…” (tr.30).

          Tóm lại, trong việc khắc họa chân dung hai chị em Thúy Kiều, Nguyễn Thanh Hiên đã tỏ ra rất thành công trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý là việc kết hợp tài tình hai hệ thống từ thuần Việt và Hán Việt. Mỗi hệ thống từ đều được sử dụng đúng chỗ, phát huy được thế mạnh của mình, có vài trò không thể phủ nhận đối với việc xây dựng nhân vật. Đây là một trong những biểu hiện cho tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của một bậc đại thi hào.

 

PHẠM TUẤN VŨ

Lớp Sư phạm Ngữ văn K32, khoa Ngữ văn, Đại học Quy Nhơn

 

Advertisements

Entry filed under: 3- NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH.

Chùm thơ TRẦM THỤY DU Phát hiện tài liệu mới về đội hùng binh Hoàng Sa

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 359,079 Người

Categories


%d bloggers like this: