TRÒ CHƠI NGUY HIỂM NHẤT (Phần I)

Tháng Tám 18, 2012 at 12:09 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

TRÒ CHƠI NGUY HIỂM NHẤT

Nguyên tác: The Most Dangerous Game

                  Tác giả: Richard Connel ( 1893-1949)

                 Trần thị Cổ Tích phóng dịch

 

“ Đâu đó ở ngoài kia, về phía tay phải, là một hòn đảo lớn”,Whitney nói, “Và khá bí hiểm”.

“Đảo gì vậy?”,Rainsford hỏi.

“ Theo các hải đồ cũ, đó là đảo Bẫy Tàu”,Whitney làm ra vẻ hiểu biết, “ Một cái tên ẩn chứa nỗi chết chóc phải không? Cánh thuỷ thủ tỏ ra rất khiếp sợ nơi ấy. Không hiểu tại sao.Có lẽ bọn họ quá tin vào những lời thêu dệt sặc mùi huyền thoại của dân đi biển”.

“Không thể thấy nó đâu cả”.Rainsford căng mắt nhìn xuyên qua màn đêm nhiệt đới ẩm ướt như tấm chăn dày phủ chụp lên chiếc du thuyền.

Vẻ giễu cợt,Whitney vừa nói vừa cười lớn: “ Anh có đôi mắt thật tinh tường kia mà.Tôi đã từng chứng kiến anh bắn hạ một con nai lớn đang lẫm đẫm bên bụi cây ở cự ly gần bốn trăm mét, nhưng tôi dám chắc anh không thể nhìn thấy gì cả trong vòng bốn dặm vào một đêm không trăng ở vùng biển Caribé này đâu”.

“ Chừng bốn mét thôi cũng chịu nữa là…”,Rainsford buột miệng, “ Quái! Sao mà giống hệt một tấm màn đen ướt sũng thế này!”.

“Đến Rio sẽ sáng sủa hơn”,Whitney trấn an, “Độ vài ngày nữa thôi.Hy vọng ở đó chúng ta sẽ gặp những tay săn báo đốm đến từ Purdey.Sẽ diễn ra dăm ba cuộc săn bắn thú vị ngược vùng Amazon.Săn bắn quả là môn thể thao tuyệt vời”.

“Phải nói là tuyệt vời nhất thế giới”,Rainsford phụ hoạ.

“Nhưng chỉ tuyệt vời đối với cánh săn bắn chúng ta chứ không tuyệt vời đối với lũ báo đốm”,Whitney triết lý.

“Đừng vớ vẩn,Whitney”,Rainsford không tán thành”,Anh là tay săn thú chứ không phải triết gia.Hơi đâu mà quan tâm đến việc lũ báo đốm cảm thấy thế nào.”

“Nhưng có lẽ họ nhà báo đốm quan tâm đấy”,Whitney trả lời, “ Ôi dào! Chúng thì hiểu cái quái gì.Nhưng tôi nghĩ chúng cũng có các cảm giác sợ hãi, sợ đau đớn và …sợ chết nữa”.

“Khéo nói xàm”,Rainsford cười lớn, “ Thời tiết oi bức đã làm anh xìu mất rồi,Whitney ạ!Hãy thực tế một chút.Thế giới được hình thành bởi hai hạng người: kẻ đi săn và kẻ bị săn.May thay, anh và tôi là những kẻ đi săn.À này,chúng ta đã đi qua khỏi cái hòn đảo quái quỷ ấy chưa nhỉ?”

“Trời tối quá không thể biết được.Mong là như vậy”.

“ Sao thế?

“Nó được biết đến như một hòn đảo tử thần ấy mà”.

“Có mọi ăn thịt người à?”

“Có lẽ còn hơn thế nữa.Ngay đến bọn mọi ăn thịt người cũng không thể sống nổi ở nơi bị Chúa bỏ quên đó.Nó đã trở thành huyền thoại đối với cánh thuỷ thủ.Anh không nhận ra là ngày hôm nay mặt mày gã nào cũng lộ vẻ căng thẳng, bồn chồn, thậm chí hoảng loạn nữa đó sao?”.

“Anh nói tôi mới để ý.Họ có vẻ gì đó rất khác thường.Ngay cả thuyền trưởng Niesel…”.

“Phải đấy, ngay cả cái lão người Thuỵ Điển có cái đầu bằng đá, kẻ đã dám đích thân gặp quỷ sứ để xin mồi lửa ấy.Cặp mắt xanh của loài cá ấy ánh lên vẻ nhìn kỳ lạ tôi chưa hề thấy trước đây…Tất cả những gì tôi moi được ở lão là:với dân đi biển, một cái gì vô hình cực kỳ tàn độc đang ngự trị trên hòn đảo chết tiệt đó…Với vẻ mặt nghiêm trọng,lão hỏi tôi như thể thăm dò “Có thật anh không cảm thấy điều gì khác lạ sao?Không khí chung quanh chúng ta nặng chình chịch như thể bị nhiễm độc.Không một chút gió.Mặt biển thì phẳng lặng đến mức khó tin.Mà này,anh đừng cười khi tôi nói với anh rằng càng nhích gần tới hòn đảo tôi càng cảm thấy ớn lạnh, nổi gai khắp người.Một nỗi khiếp sợ vô hình cứ lởn vởn khiến tôi chốc chốc phải rùng mình…”.

“Chỉ toàn tưởng tượng!”,Rainsford nổi cáu, “ Một thuyền trưởng dày dạn mà yếu bóng vía vì mê tín vớ vẩn sẽ làm nhụt chí cả thuỷ thủ đoàn mất thôi”.

“Có lẽ lão ta không nên như thế.Nhưng đôi khi tôi cũng nghĩ rằng cánh thuỷ thủ đều có giác quan thứ sáu cho phép họ linh cảm được mối nguy hiểm sắp xảy ra.Cái ác có khi là một vật thể hữu hình có thể sờ mó được,một cái gì giống như sóng của âm thanh và ánh sáng vậy.Một nơi ẩn chứa sự độc ác vẫn thường được bao trùm bởi một mùi tử khí mà những ai nhạy cảm rất dễ dàng nhận biết.Dù sao tôi cũng mừng vì chúng ta đang đi xa dần cái vùng biển hắc ám kia.Thôi,đến lúc tôi phải vào ca-bin đây,Rainsford ạ!”.

“Tôi không buồn ngủ chút nào cả”.Rainsford đáp, Tôi sẽ ra boong tàu phía sau hút thêm điếu thuốc nữa”.

“Thế thì chào nhé,Rainsford.Sáng mai gặp lại”.

“Ừ.Chúc ngủ ngon,Whitney”.

Đêm hầu như không còn một âm thanh nào khác ngoài tiếng máy tàu rì rì và tiếng chân vịt loạt soạt đẩy chiếc du thuyền lướt nhanh vào đêm tối.Rainsford  ngả mình trên chiếc ghế đệm hơi êm ái,uể oải bập phà điếu thuốc ưa thích.Cơn ngái ngủ bềnh bồng của đêm đen phủ chụp lấy anh.

“Trời tối quá!”, anh nghĩ, “ Tối đến nỗi mình có thể ngủ mà không cần khép mắt.Màn đêm là mí mắt của mình”.

Bỗng một âm thanh vang lên đâu đó ở phía phải của chiếc du thuyền làm anh giật thót.Cảm thấy hơi lạ, nhưng với đôi tai của một thợ săn chuyên nghiệp anh tuyệt không thể nhầm lẫn được.Và anh lại nghe âm thanh tương tự một lần nữa phát ra từ hướng vừa rồi.Trong vũng đêm đặc quánh, ai đó đã bắn ba phát súng…Rainsford bật dậy,lao nhanh đến lan can tàu,lòng đầy nghi hoặc.Anh căng mắt nhìn về hướng phát ra mấy tiếng súng, nhưng chỉ là một nỗ lực vô ích khi nhìn xuyên qua màn đêm đen kịt.Anh chồm người lên lan can, ráng giữ thăng bằng để nhìn cho rõ từ chỗ cao hơn.Ống tẩu va vào một sợi dây thừng văng ra khỏi miệng anh.Anh rướn người lên chụp lại.Ngay lúc đó, anh thét lên thảng thốt khi nhận ra mình đã nhoài người quá xa và không giữ thăng bằng được nữa.Tiếng kêu bị tắt ngấm khi nó chạm vào những đợt sóng nóng hổi như máu của biển Caribê đang nhấn chìm anh. Phản xạ đầu tiên của anh là vùng vẫy cố ngoi lên mặt nước, ráng sức gào thật to để may ra có ai đó trên chiếc du thuyền nghe thấy, nhưng những đợt sóng từ con tàu đang chạy băng băng không ngớt tát vào mặt, vào miệng anh mặn chát làm anh sặc sụa nghẹt thở.Tuyệt vọng, anh cố sức bơi theo ánh đèn của chiếc du thuyền đang mỗi lúc mỗi xa dần.Đuổi theo khoảng mười lăm mét, chừng như ý thức mình đã lãng phí sức lực vô ích, vì khó thể có ai đó trên chiếc du thuyền đang ngon trớn nghe được tiếng kêu cứu quá mong manh của anh giữa biển trời tối mịt thế này, anh kịp quyết định không bơi tiếp nữa.Sau vài giây tự trấn an, anh vặn mình cởi bỏ quần áo và lấy hết sức thử gào thêm lần nữa.Ánh đèn của chiếc du thuyền cứ mờ dần mờ dần như con đom đóm lập loè trước khi bị màn đêm nuốt chửng.

Rainsford nhớ đến những phát súng ban nãy.Chúng đã vang lên từ phía bên phải.Và thế là anh quyết định bơi về hướng ấy, tự nhủ hãy kiên trì, bền bỉ.Anh bơi thong thả chậm rãi, cố ý giữ sức.Không rõ anh đã âm thầm chiến đấu với biển cả trong bao lâu.E rằng mình sẽ khó thoát hiểm, anh bắt đầu đếm từng sải bơi để lấy tinh thần.Có lẽ anh đã đếm được hơn một trăm và rồi…

Rainsford bỗng nghe một âm thanh.Nó thoát ra từ bóng tối.Một tiếng rống muốn xé rách màn đêm, hình như của một con thú bị thương đang đau đớn và sợ hãi cùng cực trong cơn giãy chết.

Nhất thời anh không nhận ra đó là loài thú nào.Anh cũng không dư thời gian để quan tâm.Với niềm phấn khích tột độ, anh bơi về hướng đó.Đột nhiên, anh lại nghe thấy lần nữa tiếng rống thảm thiết đó trước khi nó bị át đi bởi một phát súng chát chúa, đanh gọn…

“Tiếng súng lục”.Rainsford lẩm bẩm trong lúc tiếp tục bơi.

Mười phút cật lực sải tới, anh được chào đón bằng một âm thanh rất quen tai,đáng mong đợi nhất trong lúc này, khiến anh mừng quýnh: tiếng sóng vỗ vào bờ đá!Anh gần như tấp ngay trên những tảng đá trước khi anh kịp nhận ra chúng.Nếu vào một đêm biển ít tĩnh lặng hơn đêm nay thì có thể anh đã bị đập mạnh vào đá tan xác như chơi rồi.Bằng tất cả chút hơi tàn còn sót lại, anh lê người ra khỏi vùng nước xoáy tít.Những khối đá lởm chởm nhô lên trong bóng đêm mờ đục.Anh cố sức trườn lên, bấu vào chúng, hết tay này đến tay khác.Thở hào hển, tay rướm máu…cuối cùng anh cũng bò được đến một chỗ bằng phẳng trên gờ đá…Rừng cây rậm rạp tràn xuống đến sát rìa dốc đá hiểm trở.Tai hoạ giấu mình trong những lùm cây dày đặc và trong những bụi gai rậm rịt kia có thể vọt ra bất cứ lúc nào Rainsford cũng đếch quan tâm.Tất cả những gì anh nhận biết lúc đó là anh đã được an toàn, đã thoát khỏi bàn tay thần biển và cảm giác toàn thân mỏi nhừ, rời rã.Chưa kịp hoàn hồn, anh ném mình xuống bìa rừng và trôi tuột vào giấc ngủ, một giấc ngủ có lẽ sâu nhất trong đời.

Khi mở mắt, nhìn vị trí của mặt trời,Rainsford biết đã xế chiều.Giấc ngủ đã giúp anh hồi phục một phần sức lực nhưng chẳng thể xua đi cơn đói đang hành hạ cái dạ dày trống rỗng.Anh nhìn quanh và gần như quên mất nỗi hãi hùng đêm qua.

“Nơi nào có tiếng súng , nơi đó có con người.Nơi nào có con người , nơi đó có thức ăn”, anh thầm nghĩ.Nhưng anh liền tự hỏi kẻ nào mà dám sống ở nơi hui hút này.Hẳn phải có một đồn luỹ kiên cố nằm đâu đó giữa những cụm rừng già gai góc và đầy đe doạ ven bờ biển.

Rainsford không thấy dấu vết gì khác lạ trên những đám cỏ dại và cây cối ken dày kia.Đi dọc theo bờ biển có lẽ dễ hơn và thế là anh quyết định bơi xuôi theo dòng nước.Anh dừng lại không xa nơi anh đã lên bờ trước đó.

Rõ ràng có một con vật bị thương, có lẽ khá lớn, vừa giãy dụa ở đây…Cây cỏ bị cày nát, những đám rêu xơ xác, một vạt cỏ nhuốm màu đỏ thẫm…đã nói lên điều ấy.Rainsford chợt nhìn thấy một vật nhỏ lấp lánh gần đó.Anh vội nhặt lên xem.Thì ra là một băng đạn trống rỗng. “Hai mươi viên”, anh phán đoán. “ Thật ngu ngốc.Tay thợ săn này thật táo bạo khi hạ sát một con mãnh thú bằng một khẩu súng nhẹ.Rõ ràng nó đã kháng cự quyết liệt.Có lẽ ba phát súng đầu mình nghe thấy là gã nổ con mồi và làm nó bị thương.Còn phát đạn cuối cùng là lúc gã đuổi kịp con thú và kết liễu nó tại đây.”

Anh xem xét hiện trường thật kỹ và đã tìm thấy cái mà anh muốn tìm: dấu giày bốt của gã thợ săn.Nó hướng dọc theo vách đá hiểm trở mà lúc nãy anh vừa đi qua.Phấn khích, anh vội vã lần theo những dấu giày, nhiều lúc trượt chân vì một khúc cây mục hay một tảng đá lung lay, anh vẫn lảo đảo lê bước.Đêm đen đã bắt đầu bao trùm hòn đảo.

Bóng tối âm u nhuộm đen cánh rừng và mặt biển khi Rainsford bất ngờ trông thấy ánh đèn lúc vừa qua khỏi một khúc quanh. Anh tin rằng mình sắp tới một ngôi làng bởi vì có rất nhiều ánh đèn.Cố vượt thêm một quãng đường nữa, anh vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra tất cả ánh đèn đều nằm trong khuôn viên một công trình kiến trúc đồ sộ với những ngọn tháp nhọn hoắc chĩa thẳng lên nền trời mờ tối.Anh căng mắt cố nhìn cho rõ hình thù nhờ nhờ của toà lâu đài nguy nga toạ lạc trên một bờ đá cao, ba phía là những vách đá dựng đứng lặn sâu xuống biển, nơi đại dương đang thè cái lưỡi tham lam liếm vào bóng đen của nó.

“Ảo ảnh”,Rainsford dụi dụi mắt.Nhưng anh liền nhận ra không phải là ảo ảnh khi tay anh chạm vào cánh cổng với những thanh sắt nhọn chĩa lên trời.Những bậc thềm đá cũng rất thật.Cánh cửa đồ sộ với một vật hình đầu người được chạm trổ một cách kỳ dị dùng làm búa gõ cửa cũng rất thật.Tuy nhiên, phía trên cái vật hình đầu người ấy lơ lửng một vẻ gì hư ảo.

Anh thử nhấc cái búa gõ cửa.Nó kêu cót két thật to như thể đã lâu chưa được dùng đến.Anh thả xuống, nó lại phát ra tiếng kêu ầm ầm làm anh giật mình.Hình như có tiếng chân người phía sau cánh cửa.Một lần nữa, Rainsford lại nhấc cái búa nặng nề lên và thả xuống.Cửa mở ngay, đột ngột như nó bung ra do sức bật của một cái lò xo. Rainsford đứng ngây ra, loá mắt vì luồng ánh sáng chói loà.Cái đầu tiên Rainsford nhận ra là một gã đàn ông to lớn vạm vỡ chưa từng thấy- một sinh vật khổng lồ- với bộ râu đen dài tới thắt lưng, trên tay lăm lăm khẩu súng lục nòng dài chĩa thẳng vào ngực kẻ lạ.Cặp mắt từ đám râu rậm rạp nheo nheo bắn về phía Rainsford tia nhìn dữ tợn.

“ Bình tĩnh nào!”,Rainsford tự nhủ, vửa nở nụ cười thân thiện tỏ vẻ thành thật, “ Tôi không phải là kẻ cướp đâu.Tôi vừa bị rơi khỏi một chiếc du thuyền.Tên tôi là Sanger Rainsford.Tôi ở New York.

Vẻ khủng bố trong đôi mắt kia vẫn không thay đổi.Khẩu súng lục chĩa vào Rainsford cứng đờ như thể gã khổng lồ là một pho tượng trong bộ đồng phục đen điểm xuyết bằng lông cừu xám.Chẳng có dấu hiệu gì cho thấy gã hiểu hoặc nghe được những gì Rainsford vừa nói.

“Tôi là Sanger Rainsford.Tôi ở New York.”Rainsford lập lại, “Tôi  bị rơi khỏi một chiếc du thuyền.Tôi đang đói.”

Câu trả lời của gã là một tay nâng cao nòng súng, tay kia đưa lên trán chào theo lối nhà binh,dập mạnh gót giày vào nhau đánh cốp, thực hiện tư thế đứng nghiêm.Một người đàn ông khác dáng vẻ mảnh khảnh, thẳng đuột trong bộ đồ ngủ, đang khoan thai bước xuống những bậc cấp rộng làm bằng đá cẩm thạch.Ông ta ung dung tiến đến chỗ Rainsford và chìa bàn tay ra.

Với phong thái của một người trí thức qua cách nhấn âm nhẹ nhàng, ông chậm rãi: “Thật vui sướng và vinh dự được đón tiếp ngài Sanger Rainsford, một tay săn lừng danh”.Một cách máy móc Rainsford bắt tay người đàn ông.

“Tôi đã đọc cuốn sách viết về nghệ thuật săn báo đốm ở Tibet của ngài,người đàn ông ý tứ, “ Tôi là tướng Zaroff”.

Ấn tượng đầu tiên của Rainsford là người đàn ông này có sức thu hút khác thường.Ấn tượng tiếp theo là khuôn mặt hết sức độc đáo nếu không muốn nói là đặc dị.Vị tướng cao dong dỏng, có lẽ đã trên dưới năm mươi vì mái tóc gần như bạc trắng nhưng cặp lông mày rậm và hàng ria tỉa nhọn kiểu nhà binh thì lại đen tuyền như cái bóng đêm mà Rainsford vừa trải qua.Đôi mắt tinh anh cũng màu đen.Xương gò má cao cao gầy gò, chiếc mũi nhòn nhọn, vẻ mặt thâm trầm thường thấy ở những kẻ quen ra lệnh hoặc ở các nhà quý tộc.Quay sang gã khổng lồ, vị tướng ra hiệu.Gã liền cất súng, phất tay chào rồi rút lui.

“Ivan là một gã mạnh cực kỳ”, vị tướng giải thích, “ nhưng bất hạnh là anh ta vừa câm vừa điếc.Một con người đơn giản, nhưng tôi cho rằng, cũng như nòi giống của mình, tính khí anh ta hơi hoang dã”.

“ Anh ta là người Nga?”

“Người Cô dắc”, vị tướng nói với nụ cười khoe cặp môi đỏ và những chiếc răng nhọn, “ và tôi cũng thế”.

“ Nào”. Ông ta tỏ ra lịch thiệp, “Chúng ta không nên trò chuyện vào lúc này.Để sau.Cái mà ngài đang cần là quần áo, cơm nước và một chiếc giường.Ngài sẽ có tất cả.Đây là nơi ngả lưng lý tưởng nhất”.

Ivan lại xuất hiện và vị tướng nói với gã điều gì đó bằng cách mấp máy cặp môi “.Mời ngài theo Ivan, ngài Rainsford”, vị tướng ân cần. “ Tôi chuẩn bị dùng bữa tối thì ngài đến.Tôi sẽ đợi ngài cùng ăn.Ngài sẽ thấy là y phục của tôi rất vừa với ngài”.

Rainsford theo gã khổng lồ đến một phòng ngủ khá rộng, trần nhà có xà ngang với chiếc giường có màn che đủ rộng cho sáu người nằm.Ivan bày ra một bộ đồ ngủ mà khi mặc vào Rainsford nhận ra nó được may bởi một thợ may bậc thầy chuyên thiết kế trang phục cho giới quý tộc thượng lưu  ở London.Phòng ăn Ivan đưa anh vào cũng có nhiều cái đáng chú ý.Một vẻ tráng lệ kiểu thời trung cổ gợi lên hình ảnh một sảnh đường thời  phong kiến của một nam tước với những tấm ván ghép bằng gỗ sồi.Trần nhà cao thoáng,bàn ăn thừa chỗ cho khoảng  bốn mươi thực khách.Đây đó trên tường là đầu các thú rừng: sư tử, cọp, voi,nai,gấu…được lồng khung cẩn thận,to lớn và hoàn hảo hơn những gì Rainsford  từng thấy.Vị tướng đã một mình ngồi đợi sẵn nơi bàn ăn.

“Một ly cốc- tai nhé, ngài Rainsford”, vị tướng kiểu cách.Cốc- tai ngon tuyệt và Rainsford để ý thấy các vật dụng trên bàn ăn từ đồ bạc, đồ thuỷ tinh, đồ sứ đến khăn trải bàn đều thuộc vào loại tốt nhất.

Họ dùng món xúp màu đỏ, béo ngậy nấu với kem đánh, rất hợp khẩu vị người Nga.Tướng Zaroff phân bua: “Chúng tôi đã cố sức duy trì những tiện nghi của xã hội văn minh ở đây.Xin thứ lỗi nếu có điều gì sơ xuất.Chúng tôi đang ở một nơi hẻo lánh, ngài biết đấy.Ngài có nhận thấy là rượu sâm banh kém ngon vì phải vận chuyển qua một khoảng đường dài như thế?”

“Hoàn toàn không”, Rainsford phủ nhận.Anh thấy vị tướng này là một ông chủ chu đáo và hết sức ân cần,một con người thực sự lịch lãm.Nhưng vẫn ẩn giấu một vẻ bí hiểm nào đó ở ông ta khiến Rainsford cảm thấy bất an.Hầu như lúc nào ngước mặt lên, anh cũng đều bắt gặp ánh nhìn dò xét của ông ta như đang đánh giá từng li từng tí người đối diện.

“ Có lẽ ngài rất ngạc nhiên tại sao tôi nhận ra ngài”, tướng Zaroff cởi mở. “ Ngài biết đấy, tôi đã đọc hết tất cả những cuốn sách nói về săn bắn xuất bản ở Anh, Pháp, Nga…Tôi chỉ có một niềm đam mê duy nhất trong đời, đó là săn bắn, ngài Rainsford ạ!”

“Ngài đã sở hữu những cái đầu thú tuyệt đẹp ”,Rainsford thăm dò khi ăn món filet mignon ngon tuyệt. “ Con bò rừng ở Capelà con vật lớn nhất mà tôi từng thấy”.

À,con bò ấy à.Vâng, nó là con ác thú đấy”.

“ Nó đã tấn công ngài?”

“ Nó quẳng tôi vào một gốc cây”, vị tướng không giấu vẻ tự hào, “ nó làm tôi gãy xương, nhưng cuối cùng tôi đã hạ được nó”.

“ Tôi luôn nghĩ rằng bò ở đảoCape là loài thú nguy hiểm nhất trong các loài mãnh thú”,Rainsford nhận định.

Trong vài phút vị tướng không nói gì thêm.Đôi môi đỏ đang vẽ nụ cười bí hiểm.Hồi lâu, ông ta chậm rãi: “Không, ngài nhầm rồi, thưa ngài.Bò rừng đảoCape không phải là loài thú nguy hiểm nhất đâu”.Ông ta nhấm nháp ly rượu của mình. “ Ở đây, trong kho dự trữ của tôi trên đảo này, còn có một loài thú nguy hiểm hơn nhiều”.

“ Trên đảo cũng có thú lớn sao?”Rainsford ngạc nhiên.

“ Thú lớn nhất”. Vị tướng gật đầu.

“Thật ư?”

“ Ồ, không phải có sẵn. Tôi phải dự trữ trên đảo đấy chứ.”

“ Ngài đã nhập khẩu loài thú nào, hổ chăng, thưa ngài?”

         (còn tiếp)

 

 

 

 

 

Advertisements

Entry filed under: TRẦN THỊ CỔ TÍCH.

Thơ đương đại – thơ khó hay độc giả khắt khe? Khoảng lặng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 348,182 Người

Categories


%d bloggers like this: