Truyện ngắn: Bến sông quê của NGUYỄN NGỌC TRẠCH

Tháng Tư 24, 2012 at 2:21 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bến sông quê

Như thường lệ hàng năm dù bận công việc cơ quan đến mấy, tôi và anh em bạn bè hẹn nhau cùng về làng Câu. Năm nay làng tổ chức ngày giỗ thứ 10 cũng là ngày địa phương tổ chức lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho xã tôi và cho Đức.

 

Từ thị xã về đến làng Câu, chiếc xe 67 cà tàng của tôi phải chạy mất hơn 1 giờ. Tôi chưa về nhà mẹ Đức mà đến thẳng nơi tổ chức lễ, lúc này quan khách và bà con trong xã đã đến khá đông. Chưa vào lễ nên tôi tranh thủ thăm bạn bè cũ, những anh em cùng đơn vị, học cùng trường kháng chiến. Có người mấy chục năm tôi mới gặp lại. Nhiều anh, chị làm ăn xa ở các tỉnh, thành phố cũng về, ai cũng vui mừng hớn hở, có người không cầm được nước mắt ôm nhau đấm lưng thùi thụi… Có lẽ sau ngày hòa bình quê tôi chưa có ngày nào đông vui như hôm nay. Đến giờ cuộc lễ bắt đầu, tôi đến ngồi cạnh gốc cây bàng cùng mấy người bạn cũ. Sau phần thủ tục, ông chủ tịch trịnh trọng đọc báo cáo thành tích của xã và bản tuyên dương thành tích của Đức, một người bạn mà tôi đã gắn bó trong suốt những năm tháng tuổi thơ. Hôm nay mẹ Đức, bà con, bạn bè đồng chí, người thân thuộc một lần nữa vĩnh biệt và tôn vinh anh trong không khí hào hùng. Nắng đầu thu còn phảng phất cái oi bức, hanh hanh của mùa hạ, rừng dừa bãi trước im lìm, mọi người như đã thấm mệt. Giọng của ông chủ tịch đều đều vang lên, gợi lại trong tôi bao kỷ niệm của những ngày tháng êm đềm và dữ dội ở bến sông quê nhà…

Đức và tôi sinh ra, cùng lớn lên ở một làng chài ven sông, người quê tôi quen gọi là làng Câu. Mặt tiền của làng là dòng sông hiền hòa, thơ mộng, cần mẫn ngày đêm đổ ra biển cả, sau lưng là bãi biển, cát trắng, sóng vỗ rì rào, quanh năm những ngọn dừa nghiêng nghiêng đung đưa vẫy gọi. Tuổi thơ của tôi và Đức thấm đậm những ký ức êm đềm và cũng rất dữ dội chính ở làng Câu, bên bến sông quê nhỏ bé này.

Nói là cùng làng, nhưng nhà tôi sang cách nhà Đức một doi đất bồi, nơi ấy có ngôi miếu Tam Tòa từ rất lâu rồi, nghe đâu dân làng lập lên để thờ ông Nam Hải, đến kỳ mở hội hè, lễ lạt, có năm biển được mùa còn tổ chức đua thuyền, hát hội. Tôi và Đức ngày ngày chơi đùa bên bến sông, và cũng không bao giờ vắng mặt trong những lần làng mở hội. Đây là dịp để bọn trẻ chúng tôi tắm sông, bơi lội, xem hát, đua thuyền,…

Tôi và Đức lớn lên trong những ngày chiến tranh ác liệt nhất của quê nhà. Chúng tôi cùng tuổi, cùng học trường kháng chiến, hàng ngày từ nhà đến trường phải qua một cánh đồng gần chục héc ta. Có lẽ vậy nên người ta gọi là Đồng Bé. Có năm trường bị cháy đôi lần hoặc bị bom, pháo bắn sập phải di chuyển sang xã khác. Hàng ngày chúng tôi đi học phải vượt qua đoạn đường khá xa, phòng học phải đào sâu dưới mặt đất, bàn là một bộ ghế xếp, lúc học mở ra, học xong xếp lại cho ra bụi, khi thì đem xuống hầm cất giữ. Vùng giải phóng lúc bấy giờ thường xuyên bị những trận pháo bầy của tàu chiến Mỹ đậu ngoài biển khơi bắn phá dữ dội, nhà cửa cháy sạch, rừng dừa quê tôi sum suê tàu lá, giờ còn lại những thân cụt, khẳng khiu, trơ trọi và đến một ngày quê tôi bị lính Nam Triều Tiên chiếm đóng, cày ủi, xây đồn. Cha của Đức – một ngư dân cao to, khỏe mạnh, miệng ăn trầu, ít nói, thường hay bận rộn với công việc của biển cả. Gia đình tôi và Đức lúc bấy giờ đi sơ tán, bà con trong làng một số đi đảo, làm ăn xa, các chị của Đức vào bộ đội, nhà chỉ còn lại mẹ và Đức. Một thời gian, bọn lính Nam Triều Tiên rút đi, gia đình tôi và Đức trở về quê cũ, chiến tranh mỗi ngày càng ác liệt hơn, trường tạm nghỉ học, tôi và Đức ở nhà phụ giúp gia đình.

Bến sông quê miên man trong nắng chiều, bên kia bờ là ghềnh đá nhấp nhô, những túp lều tranh ẩn hiện núp mình dưới rặng phi lao bên vách núi. Gió Nam thốc vào hun hút, dòng sông vẫn chảy dạt dào xanh ngắt bốn mùa, con nước thủy triều lớn ròng đều đặn, chỉ có mẹ giờ tóc đã hoa râm, Bến sông nơi tôi và Đức bơi lội, mỗi chiều chờ đón những đoàn thuyền ra khơi đánh cá của làng kéo về neo đậu san sát, trên bến, dưới thuyền, quan cảnh nhộn nhịp là bao. Doi đất nơi có miếu Tam Tòa bọn trẻ trong làng hay tụ tập đá bóng, nô đùa… giờ loang lổ, chi chít ngang dọc những hố bom, hố pháo, những đống gạch vụn, làng quê xơ xác tiêu điều…

Một buổi sáng không như thường lệ, lặng lẽ kéo tôi ra bờ sông nơi chúng tôi thường ngồi, Đức nói: Hôm qua ở xã bên, quân Mỹ thảm sát đồng bào ta và nghe các chú lãnh đạo xã cho hay, bọn chúng chuẩn bị cho trận càn lớn ở vùng này. Ngày ngày chúng cho máy bay trinh sát, trực thăng quần lượn, thấy bóng người chúng liền bắn xối xả. Nhìn ra cửa biển khơi xa, chiếc tàu chiến của Mỹ đang lảng vảng. Chiều nay làng xóm chắc bị bắn phá như mọi ngày, cuộc sống ở làng chài nhỏ bé quê tôi vẫn âm thầm lặng lẽ với bao công việc, nào là chuẩn bị cho chống càn, nuôi thương binh, đào hầm bí mật, thanh niên đi tòng quân nhập ngũ… diễn ra rất khẩn trương. Cùng đêm đó ở dưới hầm, Đức thỏ thẻ với mẹ xin đi thoát ly vào bộ đội đặc công nước, để đánh tàu địch ngoài biển. Đức là người bạn mà tôi rất kính phục từ nhỏ về tài bơi lội. Có lần tôi và Đức tắm sông, loáng một cái đã thấy Đức bên kia bờ sông, bơi qua, bơi lại đến chục cây số dưới sông, lặn sâu chục mét nước… Đức thường nói với tôi, vài năm nữa sẽ xin mẹ đi bộ đội đánh tàu địch… Và hôm nay, Đức đã nói với mẹ điều đó. Đêm về khuya, những con mọt dừa nghiến răng kìn kịt, chắc nó đang gặm nhấm những thân dừa trên nóc hầm của mẹ. Yên lặng… Bàn tay gầy gò, khẳng khiu xoa xoa đầu Đức, mẹ không nói, chỉ có hơi thở của bà phả vào mặt Đức, cùng những giọt nước mắt nóng bừng. Pháo của địch bắn cầm canh từ bên kia sông, dội vào vách núi, vang rền xé rách màn đêm. Ngoài cửa biển những đốm hỏa châu vàng vọt héo hắt dọi vào miệng hầm và mẹ thiếp đi trong tiếng sóng vỗ bờ từ bến sông quê. Sáng hôm sau mẹ thức dậy, Đức đã đi cùng anh Châu ở đơn vị đặc công nước. Trước khi đi Đức sang nhà tôi, vì quá đột ngột nên tôi tạm biệt Đức vài câu, vội vàng rút từ trong bọc quần áo cây viết Pi lót tặng Đức. Nắm tay tôi, Đức không nói, mắt chớp chớp lia lịa, ra ngõ Đức ngoái lại nói với tôi: Cậu ở lại đi sau, cố gắng chăm sóc mẹ mình…

Sau khi Đức vào bộ đội, ngày nào tôi cũng thường xuyên tới thăm, trò chuyện, đỡ đần công việc nhà cho mẹ. Những lần tôi đến, mẹ vui hẳn lên như có Đức bên cạnh. Thời gian đầu Đức có viết thư cho tôi vài lần, thư nào Đức cũng kể về những trận đánh, những chiến công diệt tàu địch, những cuộc chống càn, giúp dân sản xuất, những vùng quê anh dũng, đau thương mà Đức đi qua. Thời gian không lâu, tôi cũng thoát ly vào bộ đội pháo binh của quân khu, từ đó tôi mất liên lạc với Đức. Cho đến một ngày có dịp công tác về vùng Đông, tôi tranh thủ thăm lại làng Câu. Từ đầu xã tôi đã nhìn thấy doi đất bồi và bến sông, chỉ có hơn hai năm mà giặc đã cày ủi sạch, không còn màu xanh của cây cối, làng không còn một ngôi nhà, những con đường quen thuộc giờ không có một bóng người qua lại. Dừng ở doi đất bồi đầu xóm, tôi bỗng nhìn thấy ai như mẹ Đức ở mé sông. Bà giờ lưng còng, tóc bạc trắng, chân đi khập khễnh, thân hình mẹ trước to, cao là vậy, giờ gầy gò ốm yếu thật tội nghiệp, chỉ đôi mắt mẹ vẫn sáng, cương nghị, bao dung như xưa. Tôi bước tới dìu mẹ vào chiếc chõng tre trong túp lều nhỏ, bà con trong làng mới dựng lại cho mẹ gần mé sông. Chăm chú nhìn tôi hồi lâu, mẹ không nói. Mắt hướng ra cửa biển, những con sóng bạc đầu gợn lên tia nắng lấp lánh, đàn hải âu chừng như đi tìm cá ngoài khơi xa về đậu ở ghềnh đá trước nhà, mắt mẹ nhòa dần như trở về những ngày ác liệt của cái làng Câu nhỏ bé quê tôi. Chậm rãi mẹ kể: Sau ngày con đi, ba chị của Đức lần lượt hy sinh, cha Đức chết trong một trận càn. Từ ngày vào bộ đội, Đức có ghé về thăm mẹ đôi lần, rồi một hôm giữa ngày biển động, thủy triều lên rất cao, độ nửa đêm trời bỗng đổ mưa, sóng ngoài cửa sông dội về ầm ầm, gió cắt từng cơn, hàng cây trước nhà xào xạc. Gió lớn, mẹ và bà con trong làng đều xuống hầm trú ẩn, những con mưa xối xả liên hồi… Mấy ngày sau, bà con trong làng phát hiện: áo quần, mũ, giày và xác lính Mỹ nổi lềnh bềnh tấp vào mé sông trước nhà… Sau này mẹ có nghe các anh lãnh đạo địa phương cho hay: đêm hôm đó đơn vị của Đức hành quân, tập kết gần cửa sông. Cách đó không xa, địch tập kết tàu quân sự chuẩn bị cho cuộc đổ bộ, càn quét có quy mô lớn ở các xã vùng Đông. Đức được giao nhiệm vụ cùng hai chiến sĩ ở đơn vị đặc công nước phải tiêu diệt cho được tàu địch từ ngoài biển, ngăn chặn cuộc càn quét của Mỹ vào sáng mai. Tổ đặc công do Đức chỉ huy mang khối thuốc nổ nặng gần 50kg, ba chiến sĩ định hướng nơi tàu địch đang đậu, vừa bơi vừa vận chuyển khối thuốc nổ đến nơi. Đức và đồng đội đặt khối thuốc nổ dưới lòng tàu, anh bấm kíp hẹn giờ, sau khi kiểm tra an toàn, ba người bí mật bơi trở lại vào bờ. Mưa vẫn nặng hạt, những con sóng cao to như mái nhà bổ dữ dội, gió rét căm căm, ba chiến sĩ ngâm mình dưới nước hàng giờ, tê buốt cả tay chân. Sau một hồi vật lộn với sóng gió, họ đã vào đến bờ an toàn thì từ chỗ tàu địch đang đậu, một ánh chớp sáng lóe và tiếp theo là tiếng nổ dữ dội rung cả mặt đất… Đêm đó Đức hành quân qua nhà mẹ nhưng để đảm bảo bí mật cho trận đánh, anh không thể ghé vào thăm mẹ… Và kể từ cái đêm hôm ấy, Đức vĩnh viễn ra đi không trở lại mái nhà, cái làng Câu nhỏ bé và bến sông quê yêu dấu. Đêm đó hơn 300 tên Mỹ và mấy chục xe tăng, thiết giáp trên chiếc tàu “há mồm” của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn, Đức và một chiến sĩ trong đơn vị đã hy sinh trên đường trở về căn cứ…

Sau ngày hòa bình, Đức được truy phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, còn tôi chuyển ngành về công tác tại thị trấn ở một huyện miền núi cách thị xã chừng 45km. Để thực hiện lời dặn của bạn trước lúc vào bộ đội, tôi xin đưa mẹ về ở với vợ chồng tôi, song mẹ nhất quyết không chịu. Mẹ vẫn ở một mình, sức khỏe của bà giờ đã yếu, đơn vị tôi được cấp trên phân công phụng dưỡng mẹ suốt đời. Mỗi lần về quê, sau khi trò chuyện, thăm hỏi sức khỏe động viên mẹ, tôi lại ra bến sông của làng Câu nhỏ bé xinh đẹp ngồi một mình, lòng bồi hồi xúc động nhìn cảnh vật xung quanh nghe như đâu đây tiếng thời gian vọng về, lòng se lại… Dưới mé sông, những gợn nước lăn tăn xô bờ, gió Nam non hiu hiu thổi từ cửa sông đung đưa hàng dừa sum suê quả, tôi thả bộ trên con đường bê tông dẫn tới cầu Cảng. Ánh nắng của mùa hè chói chang đưa tôi trở về với bao kỷ niệm êm đềm và dữ dội trên bến sông quê.

 NGUYỄN NGỌC TRẠCH

Advertisements

Entry filed under: NGUYỄN NGỌC TRẠCH.

Nẻo xưa Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 350,851 Người

Categories


%d bloggers like this: