Kí của Hương Đài (trích)

Tháng Ba 21, 2012 at 11:43 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Kí của Hương Đài (trích)

 

13. “Được” đi máy bay Mỹ.

 

Sáng Mùng Hai Tết Canh Tuất (1970), pháo Mỹ từ các hướng Chu Lai, thị xã Quảng Ngãi bắn tới tấp vào nhiều nơi thôn Trà Bình. Tiếp đến là tàu rọ lượn sát ngọn tre rồi trực thăng (HU1A) cả đàn kéo đến. Chúng đổ quân xuống trước xóm Tây, bắt đầu càn quét, bắt bớ. Mục tiêu của cuộc càn lần này là dò tìm nơi đóng quân của các đơn vị chủ lực quân giải phóng. Chả là, trong đêm giao thừa, sau khi nghe Bác đọc thơ chúc Tết đồng bào cả nước, phấn khích bởi thông điệp Bác đưa ra trong bài thơ, anh em du kích đã nổ súng chỉ thiên chào mừng, có nhiều loạt đạn lửa sáng trời. Tiếng súng giao thừa của du kích đã vang đến tận ấp Kim Sa. Ngụy quân, ngụy quyền, chỉ điểm ở đây ngờ rằng có bộ đội chủ lực quân giải phóng về nên báo cáo cho thượng cấp của họ. Thế là khi vừa hết thời gian tạm ngưng bắn theo thỏa thuận giữa một bên là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và một bên là chính phủ Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, bà con thôn Trà Bình đã phải hứng chịu những loạt pháo kích dữ dội và sau đó là trực tiếp đối diện với sự bắt bớ cầm tù, bắn giết của lính Mỹ.


Ba mẹ con tôi hôm ấy trụ bám ở nhà với hy vọng hợp pháp bình yên như vài lần trước. Thấy mấy chiếc HU1A quần đảo, cất cánh, hạ cánh liên tục nhưng không biết chúng có âm mưu, hành động gì. Thực ra, sau khi dò tìm không thấy quân chủ lực ta, chúng tiến hành bắt gom các gia đình đẩy lên máy bay trực thăng HU1A đưa về Chi khu Sơn Tịnh để thẩm vấn.

Từ xóm núi Bình Tây, chúng chuyển quân nhảy cóc vào BìnhNam. Chúng ập vào nhà tôi, không nói không rằng, dí súng đẩy mẹ con tôi ra ngõ. Một quả mù tỏa khói tím nghi ngút, cay xè giữa đám đất lớn của bà Vàng. Chiếc máy bay trực thăng quần một vòng rất thấp rồi từ từ hạ xuống. Chong chóng chiếc trực thăng quay tít tạo cơn lốc mạnh thổi tung đất cát rát rạt, mù mịt. Khi hai gọng dài dưới bụng chiếc HU1A chạm đất, mấy tên lính Mỹ lôi chúng tôi lại gần, đẩy mẹ tôi lên trước rồi nhấc bổng anh em tôi lên máy bay. Tôi nhìn thấy ở khoang lái, có một phi công và một tên chỉ huy bên cạnh. Khoang giữa, nơi chúng tôi ngồi thông với khoang lái, mặt sàn trống trơn, không có ghế. Hai cửa hông mở toang, có hai tên lính lăm lăm súng đại liên 12ly7. Chiếc HU1A cất cánh. Hình như có một lực nén mạnh ép chúng tôi xuống sàn chiếc trực thăng rồi từ từ giảm bớt. Bám chặt vào trụ chống giữa hai khoang chiếc trực thăng, nhìn qua khung cửa mở toang, tôi thấy những thửa ruộng, những ngôi làng như dựng nghiêng trước mặt và lùi nhanh về phía sau. Có lúc, tôi thấy như chiếc trực thăng sụp ổ gà và cuối cùng, thấy mình nhẹ bẫng. Chiếc trực thăng đã hạ cánh xuống Chi khu Sơn Tịnh. Mấy tên lính dưới đất chạy đến kéo chúng tôi xuống và đẩy lại chiếc xe Jeep đậu sẵn gần đấy. Họ chở chúng tôi về trại giam Chi cảnh sát, sát tường rào phía nam của UBND huyện bây giờ. Trời đã nghiêng về chiều. Trong khi chờ chúng làm thủ tục sơ vấn nhập trại, mẹ tôi dúi cái bao lát Đại Hàn màu xanh (giống loại bao 25kg đựng gạo bây giờ), trong đó có một cây bánh tét mà trước lúc rời nhà, mẹ tôi quơ vội theo. Mẹ ghé tai tôi nói nhỏ, nhưng cương quyết:
– Con dẫn em trốn khỏi nơi này ngay và tìm đường về nhà. Về với bà con và tìm cách liên lạc với cha. Nói cho cha con biết, mẹ vẫn bình an. Khi nào em đói, bóc cây bánh trong bao anh em cùng ăn.

Nghe lời mẹ, một tay tôi kẹp nách cái bao lát mẹ đưa, một tay nắm tay em gái len giữa những người cùng bị bắt đang đứng ngồi trước sân trại giam Chi cảnh sát lẻn ra đường quốc lộ trước mặt. Bọn lính mải lo chuyện những người lớn, không ngờ, không để ý cuộc đào thoát của hai đứa bé ngây ngô lem luốc. Thoát khỏi cổng Chi cảnh sát Sơn Tịnh, anh em tôi thành hai đứa bé ăn mày. Hồi ấy, chiến tranh loạn lạc, con lạc cha mẹ, anh lạc em lưu lạc đầu đường xó chợ diễn ra như cơm bữa nên chẳng ai thèm để ý. Đứng bên lề đường quốc lộ, một thoáng định hướng, tôi nhanh chóng quyết định đi về hướng bắc. Từ những năm 1965, 1966, tôi đã từng nghe nói đến Suối Kinh, Thế Long, Thế Lợi là đoạn giáp ranh, tranh chấp giữa ta và địch. Từ Khu Đông lên Khu Tây Sơn Tịnh, các cô, chú giải phóng đều vượt qua đoạn này. Chân đất đầu trần, hai anh em men theo đường nhựa đi mãi, đi mãi về hướng bắc, qua một cánh đồng, một cây cầu, một xóm nhỏ có cái ngã ba đất đỏ rẽ về hướng tây (bây giờ gọi là xóm Hàng Da, ngã ba Hàng Da và mai mốt là ngã tư đấy) rồi lại một cánh đồng, gặp một chiếc cầu qua con suối nhỏ. Đoán đây là suối Kinh (còn tên cầu thì mãi sau ngày miềnNamhoàn toàn giải phóng tôi mới biết là Bán Thuyền) lại thấy không còn bờ rào ấp chiến lược, tôi quyết định men theo bờ suối về hướng tây, tìm đoạn nước cạn cõng em lội qua. Qua khỏi suối Kinh là đến đất Đồng Rẫy, Tịnh Thọ, vùng giải phóng làm chủ quê tôi. Theo con đường mòn bờ ruộng, anh em tôi cứ nhằm hướng tây mà đi. Mặt trời chỉ còn cách ngọn núi một con sào, chiếu ánh sáng yếu ớt không đủ ngăn cản bóng tối đang lăm le ập xuống. Chúng tôi đến gần một xóm nhà tranh lụp xụp vách đất giữa đồng. Bé Hoàng kêu đói, mỏi chân, không đi nổi nữa. Tôi sực nhớ mình cũng đói. Cả ngày trời chưa ai ăn uống gì. Tôi dừng lại. Hai anh em ngồi bệt xuống đất. Tôi mở bao lấy cây bánh đem theo, mở lạt, bóc lá, dùng lạt cắt cho em một phần, tôi một phần, còn lại nửa chiếc, tôi túm lại cho vào bao lát để dành. Bé Hoàng chợt hỏi:

–         Mẹ có bánh ăn hông anh hê?

–         Tôi chột dạ, ừ không biết mẹ có gì để ăn không.

–         Chắc là có, em đừng lo.

Miệng nói thế, nhưng lòng tôi lo lắng không sao nuốt nổi miếng bánh. Chắc mẹ vừa bị đói lại bị chúng tra tấn hành hạ dữ lắm. Trận đòn thù hận mà mẹ phải chịu ở ấp

Nam Sơn ngày xưa lại hiện về trước mắt tôi, rõ mồm một.

Hai anh em ngồi ăn được ít phút thì có một người phụ nữ trạc tuổi mẹ từ trong một ngôi nhà gần đó bước ra, thấy chúng tôi, liền đến gần hỏi. Tôi nhận ra ngay: Cô Liễu, hoạt động phụ nữ xã Tịnh Thọ. Cô cũng nhận ra anh em tôi. Tôi vắn tắt kể lý do anh em tôi còn lang thang ở đây giờ này. Cô dẫn vào nhà, dọn cơm cho hai anh em. Biết được Mỹ đã rút, cha và mọi người bình yên, tôi mừng hết lớn. Hai anh em không ai thiết đến chuyện ăn nữa, chỉ uống ngụm nước lã, cảm ơn, nhờ cô chỉ đường về nhà rồi vội vã cất bước. Hai anh em băng qua cánh đồng Yên Bình, vựơt qua đường rày xe lửa, lên xóm Từ rồi men theo phía nam sườn đồi Giông Tranh, xóm Gò… mò mẫm trong bóng tối chập choạng. Ra khỏi Vườn Đó, hai anh em đã nhìn thấy ánh đèn dầu hiu hắt ở hướng nhà mình. Vậy là cha đã về! Chúng tôi mừng rơn, quên cả đôi chân đã rũ riệt, chạy băng băng theo lối mòn bờ đám Vuông ruộng họ qua con đường trước xóm về nhà.

Cha tôi đứng dưới gốc cây xoài quì cổ thụ ở ngõ trước sân. Ông đang lo lắng ngóng trông tin tức người thân. Số là sáng nay ông phải lên cơ quan để triển khai công tác đầu năm, nhưng mới tưng tưng sáng, hết pháo dập rồi máy bay địch quần đảo, chụp quân càn quét nên ông bị kẹt lại, xuống hầm bí mật giữa bụi tre sau vườn. Thường thì sau khi lính Mỹ rút đi, tôi đến gần hầm dùng ám hiệu báo cho cha và các cô chú dưới hầm biết. Có lần, táy máy bập phà điếu thuốc thơm lấy của lính Mỹ, tôi đã làm những người dưới hầm bí mật chột dạ, ngờ là tôi dẫm lính Mỹ đến chỉ hầm và đã tính đến phương án mở đường máu nếu nắp hầm bị lộ. Sau một hồi lâu, nghe ngóng không thấy động tĩnh nào khác ngoài tiếng gọi của tôi, cha tôi mới đội nắp hầm ló đầu lên. Tôi nói to để mọi người yên tâm:

– “Mỹ rút hết rồi!”

– Con hút thuốc thơm hả? – Cha tôi hỏi – Lần sau không được như thế, nghe không.

– Mày làm các chú lo sốt vó. Tưởng là cháu dẫn Mỹ đến để chỉ hầm chứ. Hết cả hồn!- Cô Vũ, thương binh mất một cánh tay phải, công tác ở Ban Binh vận huyện có mặt hôm đó sau khi được các chú giúp đưa lên khỏi miệng hầm cũng lên tiếng vừa để nhắc nhở tôi vừa có ý chế nỗi lo hão của mọi người.

– Ồ, thằng này phải kiểm điểm nó mới được!

Nói vậy, nhưng ai nấy đều vui vẻ, kéo về nhà tôi ăn uống, nghỉ ngơi rồi toả đi các nơi lo công tác cách mạng.

Lần này, dưới hầm chỉ có mình cha. Ông đợi ám hiệu từ đứa con trai mình. Đã quá trưa rồi xế chiều, lắng nghe phía trên mặt đất có vẻ yên ắng nhưng tịnh không nghe báo hiệu an toàn. Tình thế buộc ông liều đỡ nắp hầm trồi lên mặt đất và tự mình men theo bờ rào rậm giữa vườn ông Năm và rẫy bà Vàng bám về nhà. Có tiếng bà con trong xóm lao xao trước ngõ. Ông nhận ra cha con ông Kính, ông Bốn… Họ cũng nhận ra ông.

– Vợ con cháu đâu?

– Nhã với hai đứa nhỏ bị máy bay Mỹ xúc đi rồi.

– Sao chỉ có vợ con nhà cháu?

– Mấy người cảnh giới phát hiện nên chạy thoát. Mẹ con nhã ở đầu xóm nên không chạy kịp.

Ông Kính phân bua. Ông ở vườn trong, chung bờ rào với vườn nhà tôi nhưng vườn rộng nên nhà cách nhà cũng cả trăm mét. Tình thế khẩn cấp nên cũng chẳng thể trách ai được. Lo lắng, buồn bã nhưng ông không thể suy sụp. Chiến tranh mà. Mất mát, đau thương là điều ông và mọi người đã lường trước, đã chuẩn bị tinh thần đón nhận, chịu đựng nếu chẳng may gặp chuyện như thế này. Ông vào nhà thắp đèn, kiểm tra xung quanh rồi tranh thủ bắc nắm cơm. Xoong cơm được gò từ vỏ bom na-pan (bom xăng), hình ống, nhác trông ai cũng nghĩ chỉ có thể phục vụ cho một miệng ăn nhưng quả thực đủ cho ba mẹ con tôi. Sau ngày thống nhất, nội tôi từ miền Bắc trở về, ở với mẹ con tôi thường sử dụng chiếc xoong này mỗi khi nội muốn nấu riêng.

Đoạn, cha tôi lục lấy cây bánh tét mẹ tôi để lại, tét thành lát ra dĩa đặt lên bàn thờ rồi thay nước, thắp hương vái ông bà. Về ăn Tết với con cháu có vài ngày mà cũng phải chịu đói khát. Thôi thì ông bà cũng phải thông cảm cho con cháu trong hoàn cảnh chiến tranh mà lấy phước đức phù hộ độ trì cho con cháu tai qua nạn khỏi. Cơm cạn, ông lại bắc tiếp xoong rau heo. Có con heo nái mẹ mới gầy hôm cuối năm. Cũng như các thành viên trong nhà, nó phải nhịn đói từ sáng cho tới giờ. Nghe tiếng người lục đục trong bếp, nó liền lên tiếng nhắc nhở, sợ chủ quên lại bỏ đói tiếp. Cha tôi “rầy” nó:

– Mày chẳng biết gì cả. Mỹ nó bắt chủ mày đi rồi, mày không thấy lo sao?. Người cũng đói cả ngày chứ riêng mình mày đâu mà đòi om sòm! – Là nói thế, nhưng với ông lúc này, nó là một người bạn. Ông đã từng sống nhiều tháng trời một mình ngoài rừng giữa ngày đông tháng giá thời kỳ đen tối mới thoát ly, một mình ốm yếu nằm trong trại tạm quây bằng ni lông giữa rừng khuya mà phía ngoài là một con hổ rình mồi, đã từng bị nước lũ cuốn trôi từ Tân Phú (Hành Tín) về Hành Thịnh và thoát chết trong gang tấc chỉ nhờ bám được một rễ cây khi nước cuốn ông tấp vào một vực sông phía bắc. Một mình vật lộn với thần chết từ chạng vạng hôm trước đến ba bốn giờ sáng hôm sau giữa mùa đông vùng núi Nghĩa Hành để rồi cuối cùng ông tìm được một ngôi nhà lẻ loi ở Hành Tín Tây. Chủ nhà là một phụ nữ luống tuổi tốt bụng. Chồng bà đi tập kết từ năm 54. Bà không có con và trụ bám ở đây chờ chồng. Biết cha tôi là cán bộ đằng mình, bà đón ông vào nhà, khui bếp đốt lửa nướng vài củ khoai để ông lót dạ đỡ đói và giúp ông hong tài liệu, quần áo. Xong đâu đấy, bà lại chỉ cho ông đường tìm về căn cứ. Ông lên đường rồi mới sực nhớ chưa kịp biết tên ân nhân vừa giúp mình. Vậy mà giờ đây, ông cảm thấy cô đơn, trống trải làm sao. Con heo đã được cho ăn. Có lẽ phải gửi nhờ bà con nuôi dùm hoặc phải bán, bởi sáng mai ông phải đi rồi. Ông không thể nán lại lâu hơn. Nhiệm vụ cách mạng đang chờ ông. Cơm cũng đã chín từ lâu nhưng bụng ông giờ lại chưa thấy đói. Có điều gì đó như mách bảo ông rằng hãy nán lại. “Sẽ có tin”! Ông mong thế hoặc linh cảm thấy thế. Ông ra chỗ cây xoài quì đứng ngóng ra con đường làng trước ngõ, mắt đăm đăm hướng về ngõ làng phía Đồn Quán.

– Cha! Ông giật mình quay về hướng tiếng gọi, thảng thốt nhận thấy hai con mình. – Cha đây. Hai con đấy ư? Thế mẹ đâu?

– Mẹ bị chúng bắt giam ở dưới quận. Mẹ bảo chúng con trốn về tìm cha,… nói cha yên tâm, đừng lo cho mẹ. Xóm mình có ai sao không cha? – Tôi trả lời cha và hỏi liền một mạch. Cha kéo chúng tôi vào lòng, cuối xuống hôn lên đầu hai đứa và dấu những giọt nước mắt. Ấy là tôi cảm nhận thế chứ trời tối nên có thấy gì đâu. Rồi chúng tôi vào nhà. Cha giục hai anh em tranh thủ tắm rửa để ăn cơm. Mâm cơm có dĩa thịt heo kho chung với mấy con cá rô đồng tôi thả lờ bắt được, dĩa dưa tàu khoai (môn) muối chua, chén mắm cái và “xoong cơm Thạch Sanh” được dọn ra giữa nền nhà. Bữa cơm lặng lẽ khác thường. Bữa cơm đầu tiên không có mẹ. Bữa cơm nặng trĩu lo âu của cha, của tôi và nỗi buồn ngơ ngác của bé Hoàng. Bé vẫn chưa kịp hiểu vì sao mẹ không về được. Bé cũng chưa kịp định hướng nơi mẹ bị giam cầm. Sáng sớm, cha đã dựng anh em tôi dậy. Ông đã dậy lo cơm nước và chuẩn bị mọi thứ từ bao giờ. Ba cha con tranh thủ lót dạ bữa sáng, đề phòng giặc càn, dội bom pháo khỏi bị đói. Những gia đình trụ bám vùng giải phóng đón một ngày mới đều theo cách như vậy. Cơm nước xong, cha dặn dò hai anh em phải cẩn thận đề phòng bom pháo, bám theo bà con.

– Thằng Hoài bủa lưới kiếm cá kho gởi cho mẹ. Con gái phải nghe lời anh hai. Cha phải đi công tác. Lúc nào tranh thủ được cha sẽ về với các con, đừng có chờ cha. Phải ngủ hầm, không được ngủ trong nhà, đề phòng phi pháo. Khi giặc càn thì chạy theo ông bà Lin hoặc ông bà Bốn. Cha đã nhờ các ông bà ấy rồi. Các ông các bà chạy đâu hai anh em chạy theo đó.

Trời chưa ló dạng, còn nhọ mặt người, cha tôi đã lên đường. Ông lại băng ra lối mòn góc vườn sau nhà lên rẫy bà Vàng rồi đi về hướng tây.

Chỉ còn lại hai anh em. Vừa bảnh mắt, ông Bốn đã xuất hiện trước ngõ. Ông gọi vào:

– Lão Khời còn nhà không? (Thời là tên cha tôi. Giọng ông hơi đớt thành ra “Khời”).

– Dạ cha cháu đi rồi ông ạ.- Bé Hoàng nhanh nhẩu trả lời.

– Ừ, cha cháu phải đi làm nhiệm vụ cách mạng. Các cháu ở nhà đã có ông bà và bà con. Buồn thì hai đứa vô ở với ông bà. Mai mốt mẹ các cháu sẽ được thả về thôi mà.
Bà Lin, ông Kính , cô Hồng, cô Đào… ra hỏi thăm, căn dặn đôi câu rồi ai nấy lại về với công việc của nhà mình. Tôi mượn rổ câu vàng của bác Xô con bà Vàng (là bác nhưng chỉ lớn hơn tôi một tuổi) đi bủa ở khu ruộng bàu đã thu hoạch vụ đông, chỉ còn trơ gốc rạ cao với cỏ lát ngập nước tới lưng quần. Một rổ câu vàng có cả trăm lưỡi câu trung được nối song song vào một dây cước lớn, dài, có phao nổi bằng thủ đĩa (một loại thân cỏ xóp, nhẹ, nổi trên mặt nước) bởi một sợi cước nhỏ dài độ năm phân. Cứ khoảng một sải tay có một lưỡi câu. Trùn (giun) khoang thường sống xung quanh gốc chuối, bờ tre hay đống rơm, những chỗ ẩm thấp, nhiều mùn. Tôi bổ từng nhát cuốc vào những chỗ có phân trùn đùn lên, bắt trùn bỏ vô vỏ đồ hộp Mỹ. Đến nơi, tôi móc mồi trùn vào lưỡi câu, dùng chân vạch một chỗ thoáng, buông lưỡi câu đã mắc mồi nhử cá. Chạng vạng hôm trước đi bủa, sáng sớm hôm sau đi thu. Có hôm trúng đậm. Có khi gặp những con cá tràu cội, quá khoẻ, tôi giữ không nổi, đành chấp nhận nhìn nó tung khỏi tay về với ruộng nước mà tiếc ngẩn tiếc ngơ. Thả lờ, cắm câu, đơm đó, tát hố bom bắt cá… là những ngón tôi khá nhuyễn. Ruộng hoang, thuốc pháo… hình như thích hợp cho cá đồng phát triển và món cá đồng hầu như thường xuyên có mặt trong mỗi bữa cơm của chúng tôi. Cá đồng kho với lá gừng, dọc khoai, cá nướng than dầm nước mắm, cháo cá tràu, chạch, lươn có lá bứa non chua chua chan chát làm gia vị, canh cá tràu nấu với rau đắng đất… là những món mà chúng tôi thường dùng và tôi gần như đã thành thạo việc chế biến. Bủa câu, thả lờ kiếm đựơc khá cá, tôi lựa những con cá to kho mặn với các thứ gia vị sẵn có: nghệ tươi, tiêu, lá gừng, nước mắm rim kỹ rồi dồn vô lon ghi-gô, nhờ mấy bà, mấy cô ở xóm bên đi thăm người thân bị giam cầm trong trận càn như chúng tôi đem cho mẹ.
Chừng hai tháng như thế trôi qua...

Advertisements

Entry filed under: HƯƠNG ĐÀI.

NHÀ THƠ THANH THẢO & những chặng đường thơ VỀ TẬP TIỂU LUẬN “THƠ – QUAN NIỆM & CẢM NHẬN” CỦA TRẦN HOÀI ANH

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 358,167 Người

Categories


%d bloggers like this: