Cảm nhận bài thơ TRĂNG VỠ của Nguyễn Ngọc Hưng – Lời bình: Trần Thị Ngọc Ánh

Tháng Mười Hai 26, 2011 at 2:17 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nguyễn Ngọc Hưng

TRĂNG VỠ

             Khuyết hao giữa độ tròn rằm

Từ Nguyễn Du trăng đã “xẻ làm đôi”

Hàn Mặc Tử lại “cắn” thêm một miếng

Đêm rách nát

Trăng trôi về phố huyện

Cơn gió tật nguyền không chở nổi lời đau…

Em ơi, ta còn gì cho nhau

Vần lục bát ốm o

Câu tự do xương xẩu

Đường tơ khảm mười ngón tay đỏ máu

Trăng võ vàng mơ thuở mượt mà xanh

Đâu chỉ là thơ

Đâu chỉ là tranh

Em huyền dịu trong mọi chiều thương tích

Sân khấu trần gian chưa hạ màn bi kịch

Trăng còn treo đỉnh dốc Mộng Cầm

Thế giới lâu rồi vắng bóng tri ân

Ngơ ngác trăng trôi về phố huyện

Hàn Mạc Tử?

Nguyễn Du?

Trời đất im lặng tiếng

Rách bây giờ là một mảnh lành xưa…                                                  

Tự bao giờ “câu thơ” đã  “đi cùng nỗi buồn”, cũng như vầng trăng phảng phất mối “mang mang thiên cổ sầu…” Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Hành tinh đơn côi, u uẩn kia là chốn nơi để hồn thơ ký thác nỗi niềm.

Mang niềm đau tự thân, lại mải đa đoan sớt chia nước mắt nụ cười nên cung Quảng Hàn cũng lắm dập bầm với hỷ, nộ, ái, ố của thế nhân. TRĂNG VỠ: một chân dung buồn của chị Hằng. Cũng là một trong vô vàn tâm thế đớn đau của những kiếp người, những cá thể cô đơn lạ lẫm giữa giống loài bởi phận đời nghiệt ngã: “Tôi không còn giống đồng loại quanh tôi, đường trở lại ngày xưa giờ xa ngái…” (Huyền thoại lá *)

Đã từng “đuối nước” cùng thi hào Lý Bạch, thêm nỗi Từ Nguyễn Du trăng đã “xẻ làm đôi”/ Hàn Mạc Tử lại “cắn” thêm một miếng. Cơn hoạn nạn không dừng ở nỗi đau phân thân làm hai mảnh bán nguyệt để “nửa soi dặm trường, nửa in gối chiếc” (ý thơ Nguyễn Du). Một trong hai mảnh vỡ ấy còn bị sứt mẻ nham nhở khiến họ Hàn phải thảng thốt “Hôm nay còn một nửa trăng thôi, một nửa trăng ai cắn vỡ rồi” (Em nhớ người xa)

Cơn đại nạn khiến những gắn bó tương liên khăng khít như trời (đêm) – mây – trăng – gió đều vương hệ lụy: Đêm rách nát…/ Cơn gió tật nguyền không chở nổi lời đau…  đá tảng!

“Nhát cắt” có khiến Nguyễn Du run tay, “vết cắn” có làm họ Hàn “ê ẩm hàm răng, giá buốt linh hồn” (?) mà từ đấy cõi người thêm mở bày cuộc tang thương!

Em ơi

Ta còn gì cho nhau?

“Chẳng có gì chẳng có gì chẳng có/ Trong hư vô ngoài cõi cũng hư vô” (Hành trình *) thì còn chi dành cho nhau. Một hồn côi, một trăng vỡ … Đồng  bệnh tương liên “cùng một lứa bên trời lận đận”  . Khuôn Hằng không “câu liêm, vành liềm **” qua thượng tuần, nguyệt tận theo chu kỳ Đất Trời vận chuyển mà khuyết hao giữa độ tròn rằm! Còn gì cho nhau ngoài câu thơ mỏng manh gầy guộc: Vần lục bát đã đành ốm o, hạn cuộc trong khuôn phép, câu tự do mặc sức tung tẩy mà nào được “có da có thịt”  Câu tự do xương xẩu. Khảm:động từ không chỉ chạm khắc niềm đau thể chất mà còn “nền trải”trong hồn người nghệ sĩ trầm kha một nỗi buồn!

Vần điệu của câu thơ, giai điệu của cung tơ, đường nét sắc màu của hội họa thấm đẫm chất tụng ca chiêm ngưỡng lẫn sớt chia, giải bày, ký gởi niềm riêng… tất cả được kết tinh từ khoảnh khắc thăng hoa của những tâm hồn đồng điệu vẫn không tô lại được sắc mượt mà xanh cho ánh trăng võ vàng một khi sân khấu trần gian chưa hạ màn bi kịch. Đồng thời cũng vô hình chung lưu lại trên dung nhan trầm mặc của Hằng Nga lắm vết xước trầy, thương tổn. Nhưng tất thảy những chiều kích ấy không làm giảm đi vẻ huyền dịu nguyên sơ của vầng trăng cổ độ: Em huyền dịu trong mọi chiều thương tích, Nguyệt quang ảo diệu kia từng soi lối dẫn bước chân Hàn nẻo “đường lên dốc đá” (ca từ). Giờ đây trăng còn treo đỉnh dốc Mộng Cầm. “Nửa mảnh trăng treo một mặt buồn’’(Mộng Xuân Hương: Bích Khê) Một chứng tích u hoài!

Thế giới lâu rồi vắng bóng tri âm / Ngơ ngác trăng trôi về phố huyện. Lần nữa, mang tâm thức lạc loài, đơn côi của một thực thể hữu tình “tự khuyết tự tròn cô độc như trăng (sáu bài hai câu *), vầng trăng không xô dạt lang thang “trôi tím  nẻo xa xăm” (vấp bóng tầm xuân *) mà vẫn lại tìm về phố huyện. Tìm về hành tinh láng giềng đầy bụi bặm, nhưng là chốn nơi duy nhất trong vũ trụ có hơi hướm, dấu vết con người. Một bấu víu theo quán tính, bản năng bầy đàn (?) (phố huyện của Nguyễn Bính, của xưa xa chưa lấp lóa xanh đỏ đèn nêông nuốt chửng ánh trăng vàng, chưa lô nhô cao ốc che chắn tầm mắt để lại “lạc loài như trăng qua phố/ mấy ai bất chợt ngẩng đầu…” (Trở lại phố xưa *)

Hàn Mạc Tử?

Nguyễn Du?

Những người muôn năm cũ!(Vũ Đình Liên)

Đâu Hàn, ơi Nguyễn …! Thanh âm vang vọng “như tiếng hú gọi bầy của một con vượn người lang thang trong đêm rừng nguyên thủy (Võ Sa Hà). Âm ba khuấy động lục tìm trong không gian, xô động đẩy lùi bước thời gian lật tìm trong quá khứ … Không một đồng vọng!

Chỉ nghe Trời Đất im lặng tiếng

Chỉ còn quặn thắt một ngoái nhìn: Rách bây giờ là một mảnh lành xưa…


Trần Thị Ngọc Ánh

Đường 33, thôn Quảng Tây xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức,  Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

* Những bài thơ cùng tác giả.                                       

** Câu liêm, vành liềm:                                           

dáng hình trăng non       

Advertisements

Entry filed under: NGUYỄN NGỌC HƯNG.

“Về quỳ trước hoa” của Nguyễn Tấn On – Lời bình: Khánh Ly Một số bài thơ viết về Bích Khê

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 362,445 Người

Chuyên mục


%d bloggers like this: