“Về quỳ trước hoa” của Nguyễn Tấn On – Lời bình: Khánh Ly

Tháng Mười Hai 25, 2011 at 11:20 sáng Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Về quỳ trước hoa” của Nguyễn Tấn On – Lời bình: Khánh Ly

Về quỳ trước hoa

                (Chào mừng Festival Hoa Đà lạt 2012)

Về ngang quán úa bên đồi

Vạt xưa vàng lạnh thả trôi sương mù

Thõng tay lá, quấn quít thu

Gió lao đao níu trăng tù và nghiêng.

Môi rừng tóc núi gùi duyên

Mặt hồ lún nụ đồng tiền chao đêm

Hừng hực lửa, hừng hực em

Suối mềm theo nắng, ta mềm theo hoa.

Ta về thăm phố núi và…

Dăm ba thằng bạn la cà ngày xưa

Đêm tỳ chén rượu đổ mưa

Một mùa phượng tím cũng vừa thôi nôi

Ta về nằm xuống khoảng đồi

Bụm tay uống nắng qua môi dã quỳ

Trên đầu mây trắng mùa đi

Lòng mênh mông quá về quỳ trước hoa

                                      Nguyễn Tấn On

                          (Hội viên Hội VHNT Lâm Đồng)

 

Trong cuộc sống hàng ngày, có những thứ khiêm tốn, lặng lẽ đi bên đời, tô điểm, làm đẹp cho đời không đòi hỏi, yêu cầu nhưng đôi khi, con người lại vô tình lãng quên. Có một loài hoa đã âm thầm dâng hiến như thế. Và chính sự âm thầm, lặng lẽ đó đã làm nên vẻ đẹp không một loài hoa “quyền quý” nào có được, một vẻ đẹp vượt thoát, thanh cao mà người ta phải thành tâm mang hết cái tình, “Về quỳ trước hoa” để chiêm ngưỡng. Trong không khí náo nức lễ hội hoa của thành phố Đà Lạt, nhà thơ Nguyễn Tấn On đã có những vần thơ độc đáo, vừa thể hiện lòng mình vừa góp tiếng nói tôn vinh loài hoa dại, một đặc sản tinh thần đi vào đời sống văn hóa đất cao nguyên.

Nói về hoa nhưng thực sự cả bài thơ là tâm tình của thi nhân đối với đất và người phố núi. Mở đầu là những cảm xúc, kỷ niệm được gọi về gắn với không gian đồi, trăng, sương, gió: “Về ngang quán úa bên đồi/ Vạt xưa vàng lạnh thả trôi sương mù/ Thõng tay lá, quấn quít thu/ Gió lao đao níu trăng tù và nghiêng”. Điều xâm chiếm người đọc trước tiên không phải ý thơ mà bằng âm hưởng và hàng loạt các hình ảnh thú vị nhờ cách kết hợp từ độc đáo. Đó là âm điệu lục bát nhẹ nhàng, du dương đi với sương mù, gió, trăng khiến người đọc có cảm giác phiêu bồng trong xứ sở thơ, lại phù hợp trong việc thể hiện tình cảm, cái tình ăn sâu vào máu thịt, cái tình đi thì nhớ ở thì thương. Khổ thơ cũng mở ra cho người đọc nhiều liên tưởng thi vị bằng những hình ảnh lạ như: quán úa, vạt xưa vàng lạnh, trăng tù và nghiêng… Kỷ niệm xưa ùa về hay những yêu thương đã một lần để mất qua tầm tay nay chỉ còn phảng phất nơi quán cũ? Tất nhiên, thơ không cần sự hiểu quá cụ thể, chính xác như văn xuôi. Thơ rất cần những khoảng trắng mời gọi khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Đó là một cách lôi cuốn. Với riêng khổ thơ này, dù có nhiều tổ hợp từ lạ nhưng không quá kỳ quái kiểu thơ “hũ nút”, ta vẫn có thể đoán và hiểu ra cái tình bên trong.

Ở hai khổ tiếp theo, người và cảnh đã hòa quyện vào nhau: “Môi rừng tóc núi gùi duyên/ Mặt hồ lún nụ đồng tiền chao đêm”. Trong dòng chảy êm đềm của lục bát nhịp chẵn, bỗng nhiên xuất hiện câu thơ lệch chuẩn: “Hừng hực lửa, hừng hực em”. Phải chăng khi vướng vào tình yêu, vào giai nhân “môi rừng tóc núi gùi duyên”, trái tim người thơ không thể không đập những nhịp mạnh, bối rối? Cho nên mới có câu: “Suối mềm theo nắng, ta mềm theo hoa”. Câu thơ vì thế trở thành điểm nhấn thể hiện một cung bậc tình cảm khác trong điệu hồn thi nhân. Đã đành “mềm theo hoa” rồi nhưng làm sao nhà thơ có thể quên những kẻ tri âm đã từng cùng mình “chén tạc, chén thù” nơi góc núi sương mù. Thế là: “Ta về thăm phố núi và…/ Dăm ba thằng bạn la cà ngày xưa/ Đêm tỳ chén rượu đổ mưa/ Một mùa phượng tím cũng vừa thôi nôi”.

Đến khổ cuối, hình ảnh loài hoa giản dị mà thanh cao mới chính thức xuất hiện. Khổ thơ là một sự kết tinh làm thành điểm nhấn cho toàn bài thơ. Nếu ở những đoạn thơ trên, ta bắt gặp một cái “tôi trữ tình” còn vướng bận với những quán ven đồi, với em, với rượu…chạy theo bao cảm giác trần thế thì đến đây, người thơ dường như đang lắng hồn mình, dừng lại trước một loài hoa đẹp “Ta về nằm xuống khoảng đồi/ Bụm tay uống nắng qua môi dã quỳ”. Loài hoa ấy không chỉ cho người ta những xúc cảm khi thả hồn mình theo cái đẹp mà còn thanh lọc, giải thoát tâm hồn người. Thời gian vùn vụt trôi, chỉ trong thoáng chốc bao nhiêu “ mùa” đã qua, con người bị bỏ lại phía sau, tất cả đều úa phai, đi vào dĩ vãng xưa cũ, nghoảnh nhìn lại những được mất, yêu thương, gian dối… của đời mình thấy sao mơ hồ tựa giấc chiêm bao mông lung, liệu mình đã làm được gì cho đời hay chưa? “Trên đầu mây trắng mùa đi/ Lòng mênh mông quá về quỳ trước hoa”. Hai câu thơ vừa chùng xuống theo tâm trạng thi nhân vừa mở ra theo cái trống trải, miên man của những nghĩ suy. Không nói được cùng người những nỗi niềm trần thế, thi nhân trải lòng mình với hoa. Hoa trở thành chứng nhân, thành người bạn chia sẻ cùng con người vui buồn trong cuộc đời, đồng thời thành biểu tượng cái đẹp vượt lên trên con người. Trước loài hoa dại ấy, người ta có những khoảng lặng để thấu cảm hết hương vị cuộc đời, suy ngẫm không chỉ về cái đẹp của một loài hoa mà còn là giá trị đích thực của cuộc sống con người. Không đua chen, ồn ào, sự tận hiến lặng lẽ bằng tấm chân tình mới là điều đáng quí, đáng trân trọng trong cuộc đời. Hương sắc bề ngoài, những thứ ấy rồi sẽ phai tàn cùng thời gian, hãy nhìn sâu vào tâm hồn nhau và yêu nhau hơn, chia sẻ cùng nhau dù chỉ là những gì bình dị nhất. Liệu một đời người đã làm được điều đó hay chưa? Liệu mỗi con người có thể làm được điều cao cả mà loài hoa kia đã làm? Loài hoa dù bị lãng quên nhưng vẫn âm thầm ngàn đời dâng hiến. Cùng là hoa nhưng không như hướng dương, dã quỳ chẳng lực chọn, yêu cuộc sống, dã quỳ hướng đến bốn phương trổ hết sức sống, mang cái đẹp tô thắm khắp đất trời. Yêu, cảm phục, nghĩ về đời người, nhà thơ thấy mình quá nhỏ bé trước một loài hoa dại.

Tính suy nghiệm đã tạo nên âm điệu chung cho bài thơ: nhẹ nhàng, du dương nhưng mơ hồ, man mác buồn. Và đúng như Vũ Bằng đã nói “cái buồn không se sắt, cái nhớ không day dứt, nhưng chính cái buồn và cái nhớ đó mới thực làm cho người ta mệt nhọc, thẫn thờ”. Kết thúc bài thơ nhưng cái buồn man mác ấy cứ ám ảnh, đọng mãi trong tâm trí người đọc, buộc người ta phải suy ngẫm. Buồn mà không lụy vì cuối cùng nhà thơ, người đọc đều  đã “ngộ” ra chân lý cuộc sống.

Hoa dã quỳ gắn với đất cao nguyên, gắn với huyền thoại về một tình yêu thủy chung son sắt nên xưa nay, hoa đi vào thơ ca như là biểu tượng cho tình yêu tha thiết, nồng nàn. Không miêu tả, kể lể mà bằng tình yêu “Hoa”, bằng cái nhìn cảm thấu, thi nhân nhìn thấy và yêu dã quỳ ở vẻ đẹp thầm lặng, bình dị mà thanh cao. Loài hoa ấy xứng đáng được trân trọng, nâng niu và tôn vinh!

Mỗi tác phẩm nghệ thuật là một sáng tạo cả về nội dung lẫn hình thức. “Về quỳ trước hoa” nặng ở cái tình thi nhân. Bên cạnh đó, bằng nỗ lực trong dùng từ, sáng tạo hình ảnh, cách ngắt nhịp…, bài thơ đã góp phần làm cho thể lục bát trở nên hiện đại hơn, gần với hơi thở cuộc sống hơn. Do đó, thi phẩm mang vẻ đẹp của sự hài hòa truyền thống và hiện đại. Nghệ thuật là sự kết tinh, là tìm tòi; nghệ thuật không bao giờ là cũ!

Khánh Ly

(Bùi Khánh Ly, 70 Vạn Hạnh – Phường 8 – Đà Lạt, 01669196587)

Advertisements

Entry filed under: NGUYỄN TẤN ON.

CD Nhạc phổ thơ Lê Quang Hận Cảm nhận bài thơ TRĂNG VỠ của Nguyễn Ngọc Hưng – Lời bình: Trần Thị Ngọc Ánh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 358,472 Người

Categories


%d bloggers like this: