Nên đề nghị Unessco công nhận thể thơ Lục Bát là di sản văn hóa

Tháng Mười Một 2, 2011 at 12:54 chiều Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Nên đề nghị Unessco công nhận thể thơ Lục Bát là di sản văn hóa 

 

Có lẽ trong chúng ta, khi sinh ra ai cũng đều được dỗ giấc nồng bằng những lời ru. Đó là những khúc ca dao ngắn. Lớn lên một chút cùng bạn bè trang lứa rong chơi thích thú hát những khúc đồng dao.  

Có thể nói, ca dao và đồng dao là hành trang đầu tiên của một đời người, và chúng theo ta mãi trong suốt hành trình, dù đôi lúc cuộc sống biến động làm ta quên đi. 

Một số trẻ con bây giờ không còn được hưởng những lời ru đó vì cha mẹ chúng bận bịu công việc nên cứ mở cái ra-dio, hoặc máy nghe nhạc để thay thế lời ru, hoặc hát bằng những bản nhạc hip-hop, pop-rock thời đại, giật gân! 

Giáo sư Trần Văn Khê từng nói, trẻ con từ trong bụng mẹ đã ‘thấm” những lời hát ru, những điệu hò, điệu lý thì khi lớn lên chúng dễ cảm nhận về tình yêu của mẹ, tình yêu quê hương qua những khúc dân ca… 

Có một người bạn ngoại quốc hỏi: Sao ở Việt Namcó nhiều người làm thơ quá vậy? Điều đó không khó giải thích, nhưng có lẽ phải bổ sung thêm câu hỏi… “… Có nhiều người làm thơ lục bát”; điều này minh giải e khá dài dòng! 

Như trên đã nói, một đứa trẻ khi chào đời, lớn lên cùng với lời ru của mẹ, của bà. Mà, hầu như tất cả những lời ru ấy là ca dao mang thể loại Lục Bát. 

Lục Bát là một thể loại thơ thuần gốc ViệtNam, một thể loại thơ không cầu kỳ mà giàu âm điệu, cộng thêm ngôn ngữ vốn nhiều âm sắc (có tới năm dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng – chưa nói còn có những chữ không có dấu – thanh bằng; còn gọi là đoản bình thanh!

Cho nên, đôi lúc một người nói chuyện, có khi vô tình đã “làm ra” một câu thơ. Trong lao động sản xuất hay chiến đấu với kẻ thù hoặc với thiên nhiên, muốn miêu tả hay hiệu triệu thì không gì bằng thơ Lục Bát. Do đó, trên thi đàn người làm thơ Lục Bát nhiều hơn người làm các thể thơ khác, đó là lẽ đương nhiên! 

Thơ Lục Bát, nói đơn giản là loại thơ sáu tám, một câu sáu và một câu tám chữ, dài ngắn mặc tình… Trong đó, chữ cuối của câu sáu thanh bằng, vần với chữ thứ sáu (cũng thanh bằng) của câu tám bên dưới, gọi là yêu vận (yêu= lưng). Chữ thứ tám của câu tám tiếp theo vần với chữ thứ sáu của câu sáu phía dưới nữa, gọi là cước vận (vần ở phần chân/ phần đuôi). Luật thơ này ai cũng biết, xin không bàn sâu. 

Những tác phẩm trước thế kỷ hai mươi không thấy có, nhưng về sau Lục Bát lại có sự biến thể về vần. Cụ thể là ở yêu vận, chữ thứ sáu của câu Lục lại vận vào chữ thứ tư của câu Bát. Vậy là yêu vận (vần lưng) lại có một vị trí mới, nó nằm ở trung tâm câu tám – tức chữ thứ tư, thay vì ở chữ thứ sáu theo cách thông thường. Sự cách điệu này kéo sai cả về luật bằng trắc, vì theo luật thơ thì chữ thứ hai, chữ thứ sáu của câu Bát phải là thanh bằng, bây giờ biến thể thành thanh trắc.  

Kiểu Lục Bát thông thường: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo ghét nhau.” (Kiều); hoặc: “Trước đèn xem truyện Tây minh/ Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le” (Lục Vân Tiên) là yêu vận truyền thống. 

Nhưng theo biến thể thì: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn hái nụ tầm xuân!”; hoặc “Đàn bà thắt đái lưng ong/ Đã khéo chìu chồng lại khéo nuôi con”. Hay: “Tuổi mẹo là con mèo ngao/ Hay cấu hay cào ăn vụng như tinh”; Hoặc như: “Nhà tôi có hai cái ao/ Một cái tôi đào một cái tôi xây”; đã biến thể mà còn phá cả niêm luật câu sáu, câu tám nữa! 

(Chữ in đậm trong hai câu: vần với nhau, chữ đậm nghiêng: biến thể – sai niêm). 

Sự cải biên này thấy xuất hiện nhiều trong các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu (Bùi Kiệm thi rớt trở về/ Cái mặt ê hề như bãi cứt trâu! (Lục Vân Tiên); Hoặc như không biến thể theo kiểu yêu vận như trên mà ép luật như: “Cầm vàng còn sợ vàng rơi/ Vào Hợp tác xã đời đời ấm no”! 

Bây giờ xin nói tới những câu lục bát bị xem là “ngớ ngẩn”(?) và chẳng “ăn nhập” gì với câu dưới hoặc toàn bài. Xin dẫn một số câu:

Trên trời có đám mây xanh

Chính giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây… 

Trong hát ru cũng có nhiều câu như vậy. Ví dụ:.. “Đưa tay bứt cọng rau ngò/ Thương anh đứt ruột giả đò làm lơ”! Hay như: “Bướm vàng đậu nhánh mù u/ Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn”… Cái sự mây xanh, mây trắng, mây vàng, con bướm hay nhánh mù u, cọng rau ngò… có “ăn nhậu” gì với chuyện yêu đương, đến “Ước gì lấy được nàng”, đến nỗi nhớ thương thầm trộm hoặc ảnh hưởng đến lời ru?.. Đó là nói cho có lề, để đệm, để làm lời dẫn cho câu sau! 

Hay như kiểu nói “dằn lân” cho vui, bất kể là có “lô-gic” hoặc đúng với thực tế hay không, ở một số bài đồng dao:

Lúa ngô là cô đậu nành

Đậu nành là anh dưa chuột

Dưa chuột là ruột dưa gang

Dưa gang là nàng dưa hấu

Dưa hấu là cậu lúa ngô

Lúa ngô là cô đậu nành!

Đậu nành là anh dưa chuột… (!)

Hoặc:                    

Kỳ đà cha cắc ké

Cắc ké mẹ kỳ nhông

Kỳ nhông ông kỳ đà,

Kỳ đà cha cắc ké…

Nói hoài đến sáng không dứt!

Hoặc bài đồng dao: “Con kiến mày ở trong nhà/ Tao đóng cửa lại mày ra đàng nào? Con mày ở dưới ao/ Tao tát nước vào mày chạy đi đâu?!” 

Như trên đã nói, tính hiệu triệu của thơ Lục Bát rất cao, vì vốn dĩ nó đã thấm đẫm vào tâm tưởng mọi người. Nó quen thuộc, có sai luật cũng chẳng sao, miễn là dễ làm, dễ nghe, dễ hiểu và dễ thuyết phục. Các bài đồng dao của trẻ cũng vậy, đừng luận gì cả. Miễn vui là được!  

Lục Bát biến thể còn kết hợp với thể thất ngôn sinh ra thể Song Thất Lục Bát nhưng cái phần “vần ở lưng” như kiểu biền ngẫu bỗng thành ra một sắc thái riêng. Như: “Bác Dương thôi đã thôi rồi/ Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta/ Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước/ Bác cùng ta sánh bước bên nhau…” (Khóc Bác Dương Khuê – Nguyễn Khuyến); Hoặc: “Trống trường thành lung lay bóng nguyệt/ Khói cam tuyền mờ mịt thức mây/ Chín tầng, gươm báo trao tay/ giữa đêm truyền hịch hẹn ngày xuất chinh…” (Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

Sự sáng tạo này rất tuyệt vời! Phải không? 

Hoặc vận dụng triệt để thể tứ tuyệt ba bằng một trắc cổ điển, nhưng chỉ lấy hai câu đầu thôi, lại còn cách điệu nữa chứ: “ Con chim đa đa đậu nhánh đa đa/ Chồng gần không lấy đi lấy chồng xa?/ Mai sau cha yếu mẹ già/ Chén cơm đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng?” (Câu 8 cũng bị phá cách rồi!). Nếu như câu tám: “Chén cơm đôi đũa tách trà ai dâng?” thì không có gì bàn cãi, nhưng đưa ba chữ “Bộ kỷ trà” vào thành ra câu Bát có tới chín chữ… .

Hoặc những câu không còn dáng dấp câu Lục nữa: “Anh về ngoài Huế thắt rế tai bèo/ Đem vô đây bán đỡ nghèo đôi năm!”  

Đồng dao có nhiều cái phi lý không thực tế nhưng, cũng đừng cất công tìm chỗ đúng sai làm chi cho mệt, trẻ con vô tư vẫn hát ra rã với nhau có chết ai nào?!..

Cũng như câu hát ru: “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc/ Dốc nào dốc bằng dốc Nam Vang” một câu đến ba chữ “Dốc” và ai cũng biết Nam Vang làm gì có dốc cao… Nhưng bao lớp trẻ thơ đã đi vào giấc ngủ thần tiên bằng những câu phi lý, ngớ ngẫn như vậy mà cũng lớn phổng phao thành đạt nên người. (!) Hồi xưa ở Miền Bắc nông dân đã hăng hái đưa ruộng đất vào Hợp tác xã vì “sợ vàng rơi” và tin vào “… đời đời ấm no” chứ đâu phê phán gì hai câu lục bát phá thể sai niêm này!

 

Các thế hệ đi trước ở Nambộ thuộc nằm lòng truyện Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu đâu có phàn nàn vì ông dụng quá nhiều những câu thơ phá luật, biến thể như vậy. Các cụ xưa thường tụ tập để “nói thơ” Lục Vân Tiên đến bỏ ăn bỏ ngủ, tới nỗi thể “nói thơ” này đã đi vào văn học sử, được sân khẩu chấp nhận như một làn điệu ca ngâm, như Tao Đàn, Trống Quân, Bồng Mạc, Sa mạc…  

Cũng những năm đầu thế kỷ hai mươi, ở Miền Tây Nam bộ có giáo phái Hòa Hảo, giáo phái “Ông Đạo Khùng”, đi đến các chợ đọc kệ, đọc sấm mà, trong các bài kệ ấy có rất nhiều câu Lục Bát phá thể, cách đọc kệ đó cũng đã trở thành một làn điệu phổ thông. Nhiều nhà sưu tầm đã xếp “nó” vào làn điệu dân ca! 

Nhưng trong giới làm Văn học ít có người chấp nhận kiểu biến thể này. Một số người không chịu được sự dễ dãi đó, cho rằng phi văn học, là thấp kém. Một thời, Nguyễn Đình Chiểu không được xếp hạng trong hàng danh sĩ văn học là vậy. 

Có một điều, ta lớn lên cùng với những lời ru, cùng với những câu ca dao “không giống ai” đó, những câu Lục Bát thuần túy bị “biến thể, biến dạng, sai niêm, sai luật”, một số câu không lọn nghĩa cùng với những bài đồng dao đến “phi lý” mà khi lớn lên mới thấy là ngô nghê, ngớ ngẫn. Cũng chẳng sao, vì lẽ, nó được phả vào đó tất cả tình thương yêu qua lời ru của mẹ, của chị, của bà.

Những bài đồng dao “ngớ ngẫn, phi lý, ngô nghê” mà khi xưa còn bé ta hát cùng đám bạn rất nhiệt tình, trải qua bao thế hệ có ai thắc mắc chi đâu? Và, ta vẫn lớn khôn để một lúc nào đó nhớ về mà quạnh lòng không ngủ được. Có sao đâu, hộp “phô-mai” vẽ cái đầu bò nhe hai hàm răng (bò có một bộ răng hàm thôi) vẫn ngon lành đó thôi. Quán phỡ (viết dấu ngã) không làm ảnh hưởng đến chất lượng món ăn, vẫn béo ngậy thơm lừng đấy chứ! 

Một số người khi lớn lên, có ăn học rồi quay lại chê bai Lục Bát phá thể, ghê kiểu “miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương” của Mẹ, chê những bài đồng dao phi lý, ngớ ngẫn như “ đi chợ… mua con tép nấu canh/ mua trái chanh nhúm lửa/ mua cái cửa sửa nhà/ mua con gà đá chơi/ mua con dơi bỏ ống/ mua cái trống đánh thùng thùng/ mua cái mùng giăng ngủ…”; là phi… đủ thứ

Chúng ta, lớn lên từ những điều phi lý, tưởng chừng như ngớ ngẩn nhưng có biết đâu những thứ ấy là cội rễ, là yếu tố hình thành nhân cách, tình yêu thương vô vụ lợi, thật thà, vị tha. Và lẽ ra, ta nên đề nghị Unessco công nhận thể thơ Lục Bát thuần túy của ta là di sản văn hóa, hơn là kỳ công xin công nhận thể loại Thơ Đường nhiều khắc khe rắc rối, vay mượn!

 

Nguyệt Lãng

 

 

Advertisements

Entry filed under: 8- THÔNG TIN.

THỜI ÁO TRẮNG Chùm thơ THỦY NGUYÊN

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


LỜI GIỚI THIỆU

SẮC MÀU THỜI GIAN Chuyên trang Văn học - Nghệ thuật. Giới thiệu: về vùng đất và con người Quảng Ngãi, các tác phẩm văn học của các tác giả trong và ngoài tỉnh. Nơi gặp gỡ, giao lưu của bạn bè gần xa. Thân mời các bạn cộng tác. Thư từ, tác phẩm xin gởi về: Hồ Nghĩa Phương, Email: honghiaphuong@gmail.com

Bài viết mới

LƯỢNG TRUY CẬP

  • 359,076 Người

Categories


%d bloggers like this: